Bình giảng Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân

I. Chuẩn bị tri thức
Nguyễn Tuân (1910-1987) sinh ra trong một gia đình truyền thống lâu đời ở đất Hà thành. Ông là nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, là nhà văn có cá tính và có phong cách nghệ thuật độc đáo. Trước cách mạng, Nguyễn Tuân là nhà văn lãng mạn cuối cùng. Sau cách mạng, ông là người đi nhiều, viết nhiều. Ông sáng tác truyện ngắn và tùy bút nhưng nổi tiếng với thể loại tùy bút. Khi nhắc đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ đến chữ “ngông”, không chỉ trong cuộc sống mà cả trong văn chương.
Nguyễn Tuân bước vào nghề văn như để chơi “ngông” với thiên hạ. “Ngông” là một sự chống trả với mọi thứ nền nếp, phép tắc, mọi thứ “đạo lí” thông thường của xã hội bằng cách làm ngược lại với thái độ ngạo đời. Nhu cầu “chơi ngông” buộc Nguyễn Tuân phải đẩy mọi cái thông thường tới cực đoan, thậm chí tới kì thuyết, nghịch thuyết. Chủ nghĩa độc đáo trong sinh hoạt tất dẫn đến lối sống lập dị, trong sáng tác tất dẫn đến bất chấp nội dung ý nghĩa nghiêm túc, tha hồ phóng bút để ném những gì kì lạ, oái oăm, cầu kì, rắc rối. Cái “ngông” đó không phải do chủ nghĩa cá nhân bế tắc mà do “thiên lương” của một trí thức yêu nước, biết coi trọng nhân cách, muốn tách mình ra và đặt mình lên trên những cái tầm thường của những kẻ thỏa mãn với thân phận nô lệ.
Tuy nhiên cái “ngông” với một số biểu hiện nghệ thuật của nó vẫn để lại những thói quen, những kinh nghiệm có thể dùng được để phục vụ cách mạng. Chẳng hạn giọng khinh bạc của Nguyễn Tuân được phát huy trên lập trường mới là vũ khí lợi hại để đánh vào những kẻ thù của dân tộc và cách mạng. Cái độc đáo, nếu không đẩy tới mức “chủ nghĩa”, là một yêu cầu không thể thiếu của nghệ thuật chân chính.
Nguyễn Tuân mỗi khi cầm bút dường như lại đặt mình trong yêu cầu: phải chứng tỏ được cái tài hoa, uyên bác hơn đời của mình. Ông có thói quen nhìn sự vật ở mặt mĩ thuật của nó, cố tìm cho ra ở đấy những gì nên họa, nên thơ. Đồng thời mỗi đối tượng quan sát của ông là một đối tượng khảo sát đến kì cùng […] Về cái vốn văn liệu, thi liệu của ông đã sử dụng theo tinh thần mới, thường để phát hiện và diễn tả vẻ đẹp tuyệt vời của Tổ quốc mình.
(Nguyễn Đăng Mạnh, Trích bài tựa Tuyển tập Nguyễn Tuân)

Tùy bút là một thể thuộc loại hình kí, gắn với bút kí, kí sự. Nét nổi bật của tùy bút là qua việc ghi chép sự vật, sự việc, con người và sự kiện cụ thể có thực, tác giả chú trọng đến viẹc bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện đại. So với các tiểu loại khác, tùy bút giàu chất trữ tình hơn cả, tuy vẫn không ít những yếu tố chính luận và chất suy tưởng triết lí. Cấu trúc tùy bút nói chung không bị ràng buộc, câu thúc bởi một cốt truyện cụ thể, song nội dung của nó vẫn được triển khai theo cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng chủ đề nhất định. Ngôn ngữ tùy bút giàu chất thơ.
(Từ điển thuật ngữ văn học)

II. Hướng dẫn đọc
Đặt trong tập tùy bút Sông Đà, bài tùy bút Người lái đò sông Đà nằm trong cảm hứng chung về tìm hiểu và phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, con người Tây Bắc dưới cái nhìn lịch sử, văn hóa và thẩm mĩ. Phần lược trích ở sách Ngữ Văn 12 (Tập một) chủ yếu tập trung miêu tả con sông Đà và người lái đò trên con sông đó. Con sông Đà trong tác phẩm mang vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng được nhìn bởi hai đôi mắt: đôi mắt của nhà văn và đôi mắt của người lái đò. Dưới đôi mắt của nhà văn, sông Đà là một công trình tuyệt vời của tạo hóa, là môi trường lao động và là “chiến trường” để con người lao động bình thường trở thành chiến sĩ, trở thành anh hùng, là sự gợi nhớ về lịch sử, là cảm hứng nghệ thuật. Dưới đôi mắt của ông lái đò, sông Đà là người bạn tri kỉ, dù đã xa nhau mười năm nhưng ông vẫn nhớ từng khúc sông, từng ngọn thác. Ông lái đò, một người lao động bình thường trở thành một nghệ sĩ chèo thuyển vượt thác, một con người mang những phẩm chất anh hùng: yêu con sông (yêu Tổ quốc), hăng say lao động, thông minh, dũng cảm. Hình ảnh, sự việc được miêu tả trong bài tùy bút đều được thể hiện dưới cảm quan nghệ thuật này.
Để làm cho đối tượng miêu tả trở nên sinh động, hấp dẫn, sông Đà dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân đã trở thành một “nhân vật”, có ngoại hình, có nội tâm, có tính cách, và đặc biệt cũng khá thông minh. Tính cách “nhân vật” sông Đà cũng khá phức tạp: vừa hung bạo vừa trữ tình. Lúc hung bạo thì nó như “kẻ thù” của con người. Lúc trữ tình, nó đầy chất thơ và thân thiết với con người đến nỗi “ như một cố nhân”, xa thì nhớ nhung, lưu luyến.
Bằng những tư liệu phong phú và chính xác, Nguyễn Tuân đã liệt kê một loạt con thác từ đất Vạn Yên trở về Thác Bờ thuộc địa phận tỉnh Hòa Bình, sông Đà hiện liên với quang cảnh hùng vĩ và huyền bí, hoang sơ của một dòng sông chảy giữa điệp trùng rừng núi Tây Bắc.
Về hình dáng: con sông Đà được miêu tả ở nhiều lúc, nhiều khúc, nhiều yếu tố, nhiều góc độ và được miêu tả một cách tỉ mỉ, thể hiện sự quan sát tinh tế và giàu trí tưởng tượng của nhà văn. Đầu tiên là chỗ vách đá dựng đứng hai bên bờ ở khoảng hẹp đến mức đứng bên này bờ, nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Sự dữ dội của dòng nước sông Đà được miêu tả nhiều nhất: có những đoạn ghềnh hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm, có những cái hút nước giữa sông như những cái giếng bê tông, có những thác mà từ xa ta đã nghe tiếng của nó như một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa. Màu sắc của nước của con sông Đà, mùa xuân thì xanh như ngọc bích, mùa thu thì lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa. Từ trên máy bay nhìn xuống, cái dây thừng ngoằn ngoèo sông Đà kia giống như áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn trong mây trời Tây Bắc. Bờ sông Đà thì hoang dại như một bờ tiền sử. Cát sông Đà thì đục thủng gan bàn chân con người, bãi cát hai bên bờ thì từng đàn bướm bay sặc sỡ.
Đặc biệt, theo sát ông lái đò ở từng khúc sông, ngọn thác, tác giả tập trung miêu tả tính cách con sông Đà.
Về tính cách hung bạo, sông Đà như ẩn chứa trong nó một bản chất của loài thủy quái đang rình rập con người đi qua như lúc nào cũng đòi nợ xuýt. Qua được ghềnh Hát Loóng, nơi có sự phối hợp giữa nước, đá, sóng, gió để uy hiếp con người, chiếc thuyền đến chỗ có cái hút nước khủng khiếp. Nước ở cái hút nước thì thở như cái cống bị sặc, mặt nước thì xoáy tít đáy, lừ lừ cánh quạ đàn. Để tô đậm thêm cái nguy hiểm của cái hút nước, nhà văn phối hợp giữa tả và kể, nhiều bè gỗ đi bị cái giếng ấy nó lôi xuống, có thuyền bị cái hút nước nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược,… Nhà văn có vẻ thích thú như muốn khám phá lòng cái hút nước này bằng điện ảnh để xem nét đẹp hung bạo của con sông: Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm dám ngồi vào cái thuyền thúng tròn vành rồi cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút sông Đà.
Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Thế mà tiếng thác đã gợi về tính cách hung dữ của con sông và cảm giác rùng rợn cho người đọc. Tiếng nước thác nghe như tiếng con người vừa giận dữ, vừa đau thương khủng khiếp, nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Đến thác nước, tác giả đã chứng kiến thế trận của đá và nước đang phục kích chiếc thuyền đang đi tới rất có kỉ luật, hình như sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Những hòn đá như những bầy thủy quái, vừa hung hăng bạo ngược, vừa nham hiểm xảo quyệt. Đá cùng với nước bày binh bố trận, hò la inh ỏi, thanh la não bạt tạo thành một thế trận để phối hợp nhiều hình thức tác chiến: đánh trực diện, đánh giáp lá cà, đánh phục kích, đánh vu hồi, đánh phòng thủ với ba lớp phòng tuyến vững chắc: hàng tiền vệ làm nhiệm vụ tiền tiêu và đánh trực diện, trận tuyến giữa để đánh bao vây, tuyến ba với những boong-ke chìm và pháo đài nổi để tiêu diệt hết cả tướng và quân.
Cuộc chiến giữa ông lái đò đơn độc với thế trận trùng điệp của thác đá diễn ra thật ác liệt, căng thẳng và không kém phần hấp dẫn. Những trận phản kích tới tấp để tiêu diệt kẻ xông trận là ông lái đò của những đá, những nước cho thấy sự quyết liệt và hung hăng của con sông Đà ở thác nước này đến mức nào. Sự hiểu biết sâu sắc về nghệ thuật quân sự cùng với vốn ngôn từ tuôn ra từ trí tưởng tượng phong phú, Nguyễn Tuân đã cống hiến cho người đọc một bức tranh hoành tráng, một khung cảnh ngoạn mục của hình ảnh ông lái đò chèo thuyền vượt thác.
Về tính cách trữ tình, qua vốn văn hóa, vốn từ vựng giàu có, trí tưởng tượng phong phú của nhà văn, con sông Đà đã hiện liên hết sức dịu dàng và thơ mộng. Ở phía thượng nguồn sông Đà, khi đến gần thì hung hăng, dữ tợn, nhưng khi nhìn ngắm nó từ xa, nhất là trên cao, sông Đà mang đáng vẻ dịu dàng của một người phụ nữ, một nàng tiên nơi chốn “bồng lai tiên cảnh” xứ Tây Bắc. Từ trên máy bay, vẻ đẹp kiều diễm của con sông tuôn dài như áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Dòng sông, mái tóc ấy tuôn dài theo câu văn của Nguyễn Tuân, xuyên qua mây, qua hoa, qua khói, qua những nương xuân xứ Mèo. Cảnh vật ven sông gợi tình, gợi cảm. Vẻ đẹp trinh nguyên và hồn nhiên của thiên nhiên hai bên bờ sông Đà trở nên thơ mộng và tĩnh lặng, làm cho người khách sông Đà ngẩn ngơ như nghe được tiếng nói của con hươu thơ ngộ kia. Giọng văn nhẹ nhàng, tha thiết, đằm thắm gợi tả sông Đà ở đoạn lững lờ như nhớ thương hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc đem đến cho người đọc cảm giác êm dịu sau khi đã vượt qua những đoạn văn “vô hồi kì trận” của thác đá sông Đà.
Ngôn ngữ của Nguyễn Tuân là thứ ngôn ngữ của cảm xúc và trí tưởng tượng bay bổng. Ngôn ngữ đó để tả cảnh, tả người, đồng thời là phương tiện cảm xúc để cái tôi tác giả ngây ngất, sau sưa trước từng nét vẽ của thiên nhiên, từng dáng vẻ của núi rừng, từng động tác của người nghệ sĩ chèo đò. Con sông đã đem đến niềm vui cho người nghệ sĩ, và là dịp để người nghệ sĩ được bộc lộ mình. Nhà văn thốt lên: Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài này rồi lại bắt ra sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình đã biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy. Ngôn ngữ giàu cảm xúc này của Nguyễn Tuân đã kéo người đọc “vào cuộc”, cùng với tác giả hành trình suốt sông Đà, khám phá cả mọi vẻ đẹp cũng như sự giàu có của nó.
Ông lái đò, người nghệ sĩ làm nghề chèo đò “tay lái ra hoa”, đồng thời là người lao động tài ba, dũng cảm được miêu tả trong sự tương xứng với tầm vóc vẻ đẹp và tính cách của “nhân vật” sông Đà. (Khái niệm con người tài hoa, nghệ sĩ của Nguyễn Tuân không chỉ ở những người hoạt động nghệ thuật như nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, điêu khắc, đào nương, kép hát,… mà cả ở những người không dính dáng gì đến nghệ thuật như uống trà, nhắm rượu, ăn phở, giã giò, thậm chí cả đao phủ, kẻ cắp,… miễn là trong nghề nghiệp của họ đạt đến sự tinh vi, siêu phàm). Khác với các nhân vật của Nguyễn Tuân trước cách mạng là những con người bơ vơ, lạc lõng, ông lái đò trong Người lái đò sông Đà là con người lao động bình thường và rất gần gũi. Tác giả giới thiệu: Ông lái đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc suốt sông Đà đã mười năm liền và thôi làm đò cũng đôi chục năm nay. Làm nghề chèo đò có mười năm mà dấu ấn nghề nghiệp ghi rõ trên thân thể ông già này: tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Nghề lái đò trên sông Đà, sau hằng trăm chuyến ngược xuôi đã rèn luyện cho ông có một trí nhớ tuyệt vời lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở. Cuộc sống của người lái đò gắn với con sông Đà, không phải là chỉ chèo đò đơn thuần trên dòng sông mà là cuộc chiến đấu hàng ngày với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên Tây Bắc có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một.
Để làm nổi bật tài nghệ ông lái đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác của ông ta như một viên tướng ngày xưa lao vào trận đồ bát quái bố trí sẵn với rất nhiều cạm bẫy đặt ra hết vòng này đến vòng khác, mỗi vòng đều có “những viên tướng đá” nham hiểm, quái ác chờ sẵn và quyết tiêu diệt bằng được đối phương của mình. Đoạn văn dựng cảnh đầy giá trị tạo hình, giống như một cuốn phim quay cận cảnh cuộc chiến dữ dội và ác liệt trên một chiến trường mà chiến sĩ “ông lái đò” ở đây vô cùng dũng cảm và mưu trí, tả dột, hữu xung đầy kịch tính. Tác giả đã vận dụng nhiều kiến thức kĩ thuật quân sự và võ thuật để diễn tả “trận chiến” oai hùng này.
Qua đoạn miêu tả ông lái đò vượt qua con thác dữ, tác giả muốn nói rằng, chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ có nơi chiến trường mà nó có ngay trong cuộc sống của nhân dân ta, hàng ngày phải vật lộn với thiên nhiên vì miếng cơm manh áo. Và trí dũng tài ba không phải tìm ở đâu, mà ở ngay cả người dân lao động bình thường kia. Cuộc đời của ông lái dò vô danh nơi ngọn thác hoang vu khuất nẻo kia là cả một thiên anh hùng ca, là cả một pho nghệ thuật tuyệt vời. Vì thế, vết bầm trên vai ông do cán chèo đè lên mà có được Nguyễn Tuân ca ngợi là thứ huân chương siêu hạng.
Ông lái đò làm nghề chèo đò, một nghề thường bị coi khinh trong quan niệm nghề nghiệp của nhiều người thì dưới đôi mắt của Nguyễn Tuân trở nên đẹp đẽ và cao cả. Nguyễn Tuân đã miêu tả cái phong thái tâm hồn của ông lái đò theo phong cách của người nghệ sĩ, việc vượt qua những con thác dữ là chuyện thường nhật, không có gì đáng nói, và cũng có khi như “cái thú bình sinh” của phong thái ông Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”. Ông lái đò là kiểu nhân vật của Nguyễn Tuân trong những sáng tác sau Cách mạng, vẫn mang cốt cách tài hoa nghệ sĩ ấy nhưng hiên ngang, dũng cảm đối mặt với mọi hiểm nguy, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để chiến thắng.

Hướng dẫn Đọc văn – Lam văn lớp 12 (Nguyễn Hữu Lễ – NXBGD)

Advertisements

“Tập làm Design” – 7 best free design tool for non-designers

Pleasure 2 Work

Công việc của mình không liên quan gì đến Art cả, hay design, hay sáng tạo các thể loại. Nhưng có rất nhiều công việc linh tinh, ngịch ngợm cần dùng đến thiết kế, nhất là cho blog, vì vậy, mình quyết định dành một buổi thứ bảy đẹp trời (mà ở nhà) để tặng cho mọi người list 7 công cụ Design mình hay sử dụng nhất. Các công cụ này tuân theo nguyên tắc Rẻ (cho không) – Dễ sử dụng – và (dĩ nhiên) đẹp. Bài viết mang tính chất chủ quan, mọi ném đá xin liên hệ anh Google nhé…

1. Pic Monkey

Warhol monkey

  • Website:Picmonkey
  • Công dụng: Chỉnh sửa ảnh, tạo albumn ảnh (photo Collage)
  • Ưu: Pic Monkey là sự kết hợp tuyệt vời ông mặt trời của Instagram và Photoshop. Các hiệu ứng, tùy chính rất dễ sử dụng, đối với bản thân mình, đây…

View original post 815 từ nữa