Phân tích : Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận

A/ MỞ BÀI

_ Theo lối xuất xứ : Nhắc đến Huy Cận, người ta liên tưởng ngay đến nhà thơ của vũ trụ, của thiên nhiên. Thơ của ông trước Cách mạng tháng tám thướng thấm đẫm nỗi buồn. Sau những ngày hòa bình được lặp lại trên miền Bắc, cũng cảm hứng lãng mạn nhưng thơ của Huy Cận không xa rời với thực tế mà gắn liền với cuộc sống hiện thực. Cái nhìn của thi sĩ về thiên nhiên bỗng trở nên ấm áp và tràn đầy niềm tin yêu vào con người. « Đoàn thuyền đánh cá » được viết năm 1958 nhân chuyến đi thực tế ở Hồng Gai là một bằng chứng.

Bài thơ đã khắc học cảnh tượng đoàn thuyền đánh cá làm việc cật lực trong đêm tối để từ đó tác giả kín đáo bộc lộ thái độ ngợi ca sự giàu đẹp của biển quê hương và vẻ đẹp của những người lao động mới. Chủ đề ấy đã được thể hiện khá rõ nét trong đoạn trích (trích dẫn đề)

_ Theo lối so sánh :

Yêu biết mấy những con người đi tới

Hai cánh tay như hay cánh bay lên

Ngực dám đón những phong ba dữ dội

Chân lội bùn không sợ những loài sên

(Tố Hữu)

Đẹp thay, tự hào thay hình ảnh những con người mới đang làm chủ cuộc đời mình. Có thể nói khung cảnh miền Bắc đang cuộn chảy theo dòng thác xây dựng chủ nghĩa xã hội và hình ảnh những con người lao động mới là nguồn cảm hứng dạt dào trong những sáng tác được viết trong giai đoạn. Bên cạnh « Tiếng chổi tre » (Tố Hữu), « Ngói mới » (Xuân Diệu), « Anh chủ nhiệm » (Hoàng Trung Thông) … sẽ là thiếu sót lớn nếu chúng ta không nhắc đến « Đoàn thuyền đánh cá » của thi sĩ Huy Cận.

Bài thơ đã khắc họa sự giàu đẹp của biển quê hương và cảnh tượng đoàn thuyền đánh cá làm việc cật lực trong đêm tối để từ đó tác giả kín đáo bộc lộ thái độ ca ngợi sự giàu đẹp của đất nước và con người Việt Nam trong thời kì mới. Chủ đề ấy được thể hiện khá rõ nét trong đoạn trích sau đây (trích dẫn đề)

Hoặc :

Huy Cận có lần tự họa về mình :

Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm

Nỗi nhớ thương không biết đã tàn chưa

Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa

Cùng đất nước mà nặng buồn sông núi

« Mai sau » – Huy Cận

Đó là tâm trạng của một chàng Huy Cận khi còn là một gương mặt nổi bật của phong trào Thơ mới. Buồn nên chàng gửi nhớ gửi thương vào vũ trụ, đốt lên ngọn « Lửa thiêng » để giải vợi nỗi sầu. Sau một thời gian trăn trở kiếm tìm một lối đi cho thơ, Huy Cận đã bắt kịp nhịp điệu cuộc sống mới. Nhà thơ hăm hở đi thực tế để viết nên những khúc tráng ca về thời đại. « Đoàn thuyền đánh cá » viết năm 1958 nhân chuyến đi thực tế ở Quảng Ninh là một bằng chứng đánh dấu bước chuyển thực sự trong sự nghiệp sáng tạo thi ca của Huy Cận.

Bài thơ là khúc hát khỏe khoắn, lãng mạn, hào hùng ca ngợi cuộc sống lao động đang đổi thịt thay da và hình cảnh những con người trong tư thế làm chủ bầu trời, làm chủ cuộc đời mới. Chủ để ấy được thể hiện khá rõ nét trong đoạn trích (trích dẫn đề)

 

B/THÂN BÀI

Mở đầu bài thơ là cảnh tượng hoàng hôn trên biển vừa diễm lệ, vừa hùng vĩ đầy sức sống :

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Từ ngoài khơi xa nhìn vào đất liền, tác giả đã nhìn thấy được cảnh mặt trời xuống biển như một « hòn lửa » rực cháy được ủ trong lòng biển cả, tiếp tục làm ấm áp cả không gian. Vũ trụ bao la, huyền bí như cái nhà khổng lồ mà đêm tối là cánh cửa sập xuống, còn những con sóng chạy ngang trên biển là những « then » cài… Nghệ thuật so sánh và nhân hóa mà tác giả đã sử dụng ở đây thật mới lạ diễn tả cụ thể cảnh vũ trụ bắt đầu đi vào trạng thái nghỉ ngơi. Thanh trắc trong hai câu thơ đầu chiếm ưu thế cùng với những động từ mạnh « cài, sập » dễ khiến cho chúng ta nghĩ đến cảnh cập rập chuẩn bị đi nghỉ của thiên nhiên.

Đấy lại là lúc mà những người ngư dân bắt đầu chuyến ra khơi :

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Đây là sự ra đi đầy khí thế của một tập thể « đoàn thuyền », không phải là một chiếc thuyền con hoặc vài ba chiếc thuyền lưa thưa rời rạc. Từ « lại » cho ta thấy đầy là sự tiếp diễn nhịp điệu lao động của họ, cảnh ra khơi khi hoàng hôn xuống như thế này đã diễn ra thường xuyên trong nhiều đêm, đó còn là sự khẳng định nhịp điệu lao động của dân chài đã ổn định, đi vào nề nếp trong hòa bình.

Hình ảnh những cánh buồm căng lên vì no gió là chi tiết thực nhưng « câu hát căng buồm » thì rõ ràng là hư ảo. Những người ngư dân ra khơi trong tiếng hát. Tiếng hát của họ vang xa, vút cao trên sóng nước mênh mang. Tiếng hát chính là sự thể hiện niềm vui, phấn khởi, niềm lạc quan tươi trẻ của những người đánh cá. Chỉ một tiếng hát mà nói được bao điều về thân phận con người qua hai chế độ. Ở đây không còn nữa cái cảm nhận từ nghìn xưa về sự nhỏ bé, yếu đuối của con người trước biển cả bí ẩn, chứa đầy sức mạnh tàn phá, hủy diệt vô cùng dữ dội… Chính chi tiết lãng mạn độc đáo ấy lại biểu hiện khí thế mạnh mẽ của những con người trong lao động tập thể. Nếu như hai câu thơ đầu thanh trắc được sử dụng ưu thế thì ở hai câu sau thanh bằng được mở ra như ngân nga, kéo dài gợi cho ta nghĩ đến vẻ lâng lâng sảng khoái trong tâm hồn con người. Sự đối lập về hình ảnh và nhạc điệu giúp người đọc phần nào hiểu được nỗi vất vả, cực nhọc của công việc chài lưới về đêm.

Vẫn nhịp điệu sôi nổi hào hứng, khổ thơ tiếp theo là nội dung lời hát thể hiện tâm tư người lao động cầu mong đi biển gặp nhiều may mắn và lời ca ngợi sự giàu có của biển cả :

Hát rằng : cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi !

Chuyện làm ăn thường có nhiều may rủi. Ra khơi đánh cá, họ cầu mong biển lặng, sóng êm, gặp luồng cá, đánh bắt được nhiều. Niềm ước mong ấy phản ánh tấm lòng hồn hậu của ngư dân trải nhiều nắng, gió, bão tố trên biển. Tác giả đã ví đàn cá thu lưới nhanh trên biển « như đoàn thoi », từ đó tác giả liên tưởng đến tấm vải dệt là biển. Một hình ảnh đẹp và khoáng đạt biết bao ! Từng đoàn cá như những con thoi chạy ngang dọc trên tấm vải dệt là biển, tạo nên những luồng sáng lấp lánh giữa biển đêm. Cách diễn đạt của tác giả không khỏi gợi ta liên tưởng đến sự giàu có của biển khơi ẩn chứa trong câu ca lời hát của họ.

Yêu vẻ đẹp giàu có của biển, những người dân mong muốn đánh bắt nhiều cá để phục vụ cho đất nước. « Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi ! » câu nói như một lời kêu gọi « đoàn cá » vào lưới nhưng cũng đồng thời là lời của những người ngư dân gọi nhau thúc giục hãy nhanh tay lao động. Những hình ảnh « cá bạc, đoàn thoi, luồng sáng, dệt lưới » còn là những hình ảnh ẩn dụ rất sáng tạo đem đến cho người đọc bao liên tưởng  thú vị về vẻ đẹp của thơ ca. Đại từ « ta » vang lên đầy tự hào kiêu hãnh, nó không còn là cái tôi nhỏ bé đơn côi như những ngày xưa nữa mà là cái « ta » tập thể đầy sức mạnh. Nhịp thơ đọc lên nghe sôi nổi, hào hứng, ngân dài, vang xa như chính tâm trạng sảng khoái, say sưa của những con người làm việc với tất cả trí tuệ và tình yêu lao động, yêu biển yêu nghề. Dường như đó chính là yếu tố tạo nên cái phơi phới của đoàn thuyền đang lướt đi giữa trùng khơi.

Và cảnh đó được tác giả miêu tả trong bốn câu thơ tiếp theo :

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng

Trong cảnh đêm tối đang lan dần, chúng ta thấy đoàn thuyền vẫn lướt đi nhẹ nhàng với «
ánh trăng » làm cánh buồm, gió làm bánh lái. Nếu ở khổ đầu ta bắt gặp ánh sáng của một buổi hoàng hôn thì giờ đây khi màn đêm buông xuống, ánh sáng được tỏa chiếu từ ánh trăng. Bút pháp lãng mạn với những yếu tố tưởng tượng bất ngờ tạo cho ta một ấn tượng sâu sắc về sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người. Hình ảnh « đoàn thuyền » hiện lên thật lớn lao ngang tầm với vũ trụ và chan hòa với trời nước bao la tuyệt đẹp. Công việc đánh bắt cá trở nên thơ mộng. Chúng ta như được cùng tác giả hòa nhập vào cái tâm trạng lâng lâng sảng khoái của những con người đang trong tư thế làm chủ vùng biển của đất nước. Chữ « lướt » đặc tả đoàn thuyền ra khơi với vận tốc nhanh, thiên nhiên cùng góp sức với con người trên con đường lao động và khám phá. Nhịp thơ đọc lên nghe hối hả, lôi cuốn. Nhưng rõ ràng đây không phải là một cuộc du ngoạn bằng thuyền trên sông nước mà đây là cuộc chiến đấu thực sự để giành lấy từ thiên nhiên những tài nguyên bằng tất cả sức lực, trí tuệ của con người. Những hình ảnh « dò bụng biển, dàn đan thế trận » như chứa đựng tất cả sự vất vả, hiểm nguy của những con người gắn bó cuộc đời mình với ngư trường với biển cả.

Sự giàu đẹp của biển quê hương đã được thể hiện trước mắt :

Cá nhụ, cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long

Một loạt những hình ảnh liệt kê « cá nhụ, cá chim, cá song, cá đé » đã diễn tả sự phong phú giàu có của biển cả. Cảnh thiên nhiên về ban đêm của biển cả thật huyền ảo ! Đó là cảnh đêm trăng trên biển lung linh lấp lánh ánh trăng vàng do sự quấy động của đàn cá. Cái đuôi cá quẫy được so sánh với ngọn đuốc rực cháy. Nghệ thuật phối sắc màu rất tài tình làm cho vần thơ đẹp như một bức tranh sơn mài rực rỡ. Đại từ « em » thể hiện sự trân trọng, yêu mến sản vật của quê hương, là sự gắn bó của con người với biển cả.

Cảnh đep ban đêm còn được diễn tả bằng hình ảnh « sao lùa nước Hạ Long ». Sự tưởng tượng của tác giả thật phong phú và khá bất ngờ vì ánh sao in xuống nước, sóng đẩy vào mạn thuyền tạo nên cảnh « sao lùa nước » khiến cho chúng ta có cảm giác như « đêm » đang « thở ». Trong cái hơi thở ấy có âm thanh của sóng, gió mà còn có cả hơi thở từ lồng ngực căng khỏe của những người ngư dân. Hạ Long là một thắng cảnh bậc nhất của đất nước. Hạ Long một đêm trăng mang vẻ đẹp thần tiên. Huy Cận với bút pháp lãng mạn kết hợp với bút pháp nhân hóa đã tả cảnh đánh cá trên Hạ Long một đêm trăng bằng bao hình ảnh tuyệt vời. Thiết nghĩ phải có một tình yêu biển sâu nặng mới có thể viết lên những vần thơ tuyệt bút như vậy !

ð  Miêu tả cụ thể cảnh đánh bắt cá trên biển :

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào

Bài hát vang lên văng buồm đưa thuyền ra khơi, bài hát lại vang lên trong lao động làm cho công việc bớt phần mệt nhọc. Ánh trăng in xuống nước, sóng nhịp nhàng xô bóng trăng dưới nước gõ vào mạn thuyền tạo thành hình ảnh muôn ngàn ánh vàng tan ra theo làn sóng mà thi sĩ ngỡ như nhịp trăng cao gõ cá. Bút pháp lãng mạn được vận dụng ở đây đã góp phần làm đẹp thêm công việc đánh cá trên biển cả. Ánh trăng hiền hòa dịu mát cứ trở đi trở lại trong bài thơ như luôn đứng về phía con người trong lao động làm bạn với con người. Hai tiếng « gọi cá » thân thương biết dường nào ! Đại từ « ta » một lần nữa lại vang lên đầy tự hào kiêu hãnh. Với nghệ thuật so sánh lòng biển « như lòng mẹ » cùng với bút pháp nhân hóa : biển « nuôi lớn đời ta », tác giả đã thành công trong việc bộc lộ cách cảm, cách nghĩ của người dân chài. Theo họ, biển là bà mẹ bao dung và hào phóng đang mở cả lòng ra để cho họ nhiều tấn cá. Cũng từ hai câu thơ này, ta phần nào hiểu thêm sự gắn bó thiêng liêng giữa biển cả với cuộc đời của họ. Âm điệu thơ ở đây không sôi nỏi, dứt khoát mạnh mẽ mà trầm lắng, ấm áp, ngọt ngào, da diết như làn điệu ca dao.

Sau một đêm lao động vất vả, những ngư dân đang thực hiện các thao tác cuối cùng trước khi trở về đất liền :

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng…

Gắn liền với ánh trăng là « sao », hơn một lần bài thơ nói đến ánh sao. Ánh sao trên biển nhìn từ xa như sà xuống thấp, nhập vào lòng biển theo những con sóng. Giờ đây đêm đã tàn « sao mờ », ánh sao đêm báo hiệu cho trời sắp sáng. Không gian và thời gian ấy như thôi thúc người lao động làm việc nhanh gấp cho « kịp trời sáng ». Đại từ « ta » cứ trở đi trở lại góp phần tạo nên một bức tranh tập thể. Hình ảnh « kéo xoăn tay » đã miêu tả động tác lao động vất vả, thái độ làm việc cật lực của những người ngư dân. Hình ảnh « chùm cá nặng » mang tính ẩn dụ thật độc đáo, trong hình ảnh đó chứa đựng biết bao niềm vui tươi, sảng khoái trước những thành quả mà họ đã tốn bao công sức mới thu hoạch được. Những « vẩy bạc đuôi vàng » của cá tô điểm cho cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, góp ánh sáng cho buổi rạng đông đồng thời cũng biểu hiện tâm hồn tạng rỡ hân hoan của con người của biển. Rạng đông đến không phải từ mặt trời mà từ thành quả lao động của con người. Một lần nữa khổ thơ cho thấy nghệ thuật sử dụng màu sắc của nhà thơ rất điêu luyện. Sắc cá dưới ánh trăng và sắc cá dưới ánh rạng đông đều được miêu tả thật tuyệt đẹp. Vẫn nhịp thơ nhanh gọn, tác giả đã khắc họa rõ những thao  tác nhịp nhàng, thành thạo cuối cùng của một đêm lao động. Màu « nắng hồng » chính là vẻ đẹp của bầu trời hay đó là màu hồng của một ngày mới, một cuộc đời mới.

Đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh đẹp trời, con người lại trở về trong tiếng hát, trong khung cảnh buồm căng gió lộng :

Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi

Tiếng hát hòa trong gió thổi đưa đoàn thuyền ra khơi đêm trước, tiếng hát hòa nhập cùng công việc của người ngư dân giờ đây lời hát ấy lại cùng đoàn thuyền đầy ấp cá hân hoan về bến. Vẫn chi tiết lãng mạn, hình ảnh sáng tạo, nhịp thơ khỏe đầy khí thế hào hùng, sảng khoái, tác giả miêu tả « đoàn thuyền » cũng chính là con người đang khẩn trương « chạy đua cùng mặt trời », tranh chấp với thời gian để tạo ra thành quả lao động xây dựng cuộc sống mới. Khổ thơ cuối như một điệp khúc của bài ca lao động vang lên từ nhịp sống khẩn trương của những con người làm chủ đất nước. Nếu ra đi trong cảnh « mặt trời xuống biển như hòn lửa » hùng tráng thì giờ đây họ trở về trong cảnh « mặt trời đội biển nhô màu mới » cũng thật hùng vĩ. Hình ảnh « đội biển » cũng là một nét sáng tạo độc đáo. Hình ảnh « màu mới » của không gian cũng gợi cho ta nhiều liên tưởng. Cái « mới » đâu chỉ của thời gian mà cái mới trong cuộc đời lao động, lao động cho chính bản thân mình, cho tập thể, vì thế trong câu thơ niềm vui cứ dâng đầy. Phải chăng đây còn là màu mới của cuộc đời hồng tươi sắc thắm trên miền bắc không còn bóng quân xâm lượt ? Thuyền về bến cảng trong buổi ban mai, ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt cá khiến nhà thơ liên tưởng tới hàng ngàn mặt trời nhỏ xíu đang tỏa sáng niềm vui. Câu thơ không chỉ là bức tranh thu hoạch được mùa cá mà còn vẽ lên cả cảnh tượng cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân vùng biển. Bằng lao động và mồ hôi, họ đã viết lên bài ca cuộc đời. Đánh cá trong đêm, đối diện với thiên nhiên rộng lớn nhưng người lao động không bị rợn ngợp, không sợ hãi đó chính là nhờ rất nhiều ánh sáng. Đó là ánh sáng của thiên nhiên nhưng cũng là ánh sáng của lòng người, ánh sáng tỏa phát từ cuộc đời lao động vất vả nhưng tràn ngập niềm vui của con người lao động mới, đang làm chủ cuộc đời. Đó cũng là ánh sáng của thời đại mới.

 

  • Đánh giá chung

_ Về nội dung : các khổ thơ đã kết thúc, câu hát cũng không còn nhưng vương vấn trong tâm trí độc giả vẫn là hình ảnh vùng biển quê hương giàu đẹp và dáng vẻ những con người lao động hiên ngang, dũng cảm. Đọc bài thơ, ta tự hào hơn về một vùng biển VN giàu đẹp, con người VN dũng cảm, lạc quan trong xây dựng đất nước.

_ Về nghệ thuật : Cảm hứng lãng mạn của nhà thơ kết hợp với hiện thực của thời kì đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc nước ta đã tạo nên một tứ thơ hay, độc đáo. « Đoàn thuyền đánh cá » đúng là một khúc tráng ca trên mặt biển của những con người lao động mới.

_ Về tác giả : Nếu như trước cách mạng, thơ Huy Cận thấm đẫm nỗi buồn vào vũ trụ và lòng người qua ánh sáng leo lét, sầu buồn của « Lửa thiêng »

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

thì những bài thơ được viết sau những ngày mùa thu lịch sử lại mang âm điệu ngọt ngào, niềm vui say mê và phấn chấn của nhân dân lao động đang làm chủ cuộc đời với nhiều ánh sáng rực rỡ, ấm áp tình người, tình đời, ánh sáng của chế độ mới. Bởi thế có thể nói cảm quan vũ trụ đã có trong thơ Huy Cận trước cách mạng đến « Đoàn thuyền đánh cá » được tiếp nối và phát triển với những bước tiến mới.

 

C/ KẾT BÀI

Qua việc vận dụng âm điệu thơ sôi nổi, khỏe khoắn, hình ảnh thơ tráng lệ, ngôn ngữ độc đáo mới lạ ; cùng với bút pháp lãng mạn tài hoa, các khổ thơ trên đã giúp ta phần nào cảm nhận được nét đẹp vừa kì bí, vừa huy hoàng của biển cả và sức sống mãnh liệt của những con người lao động cùng với tâm trạng yêu đời, thái độ ngợi ca của thi sĩ đối với cuộc sống mới.

Bài thơ đã truyền cho người đọc một niềm tin và sức sống mới, giúp ta thêm yêu những người lao động, những người cần cù, dũng cảm và tự hào hơn về quê hương mình.

Hoặc : Chính nghệ thuật rất riêng của thi sĩ đã tạc vào lòng người đọc một ấn tượng không bao giờ phai nhòa. Đất nước ta hôm nay vẫn đang trên đà phát triển, mong ước được so sánh với các cường quốc năm châu, thiết nghĩ những bài tráng ca đề cao vẻ đẹp của con người lao động và tinh thần hăng say, nhiệt tình sản xuất luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu của bao người dân VN. Một lần nữa, xin cám ơn ông, ngòi bút tuyệt tài Huy Cận

Hoặc : Bài thơ là một minh chứng cho sự đổi mới tâm hồn của nhà thơ Huy Cận. Biển giờ  đây không còn là nơi để ông trút bỏ tâm sự nữa mà là nơi ông gửi gắm bao hy vọng vào một tương lai sáng đẹp của đất nước. Bài thơ đã khép lại nhưng ta vẫn như còn nghe thấy tiếng sóng biển và cả tiếng lòng của thi sĩ.

 

Advertisements

13 thoughts on “Phân tích : Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận

    • Cám ơn bạn đã nhan xet 🙂 nếu bạn đọc kĩ bài mình thì đây chỉ giống như một dàn bài chi tiết, và chưa phải là một bài viết hoàn chỉnh. Chủ yếu cung cấp cho các bạn nội dung chủ yếu và phải phân tích những yếu tố nào của bài. Nếu muốn bài hay thì tự mỗi bạn khi đọc xong và hiểu kết cấu của bài, sẽ tự viết lại bài của chính mình. Vì chỉ có chính mình tự viết ra mới biết là hay, hay là không hay. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho bạn một vài điểm nào đó 😉

Bình luận nha :)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s