Vợ nhặt (Kim Lân)

Vợ nhặt được thai ngén ngay sau nạn đói năm 1945 nhưng ra đời sau đó mười năm. Nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu đó đã ám ảnh nhà văn, thôi thúc nhà văn viết về nó. Tuy nhiên, “Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người” (Kim Lân).

Truyện kể về nhân vật Tràng, nhà nghèo, dân ngụ cư, không lấy được vợ. Một lần theo xe chở thóc lên tỉnh, một người phụ nữ đã theo anh về nhà và họ trở thành vợ chồng. Tràng đã “nhặt” được vợ trong hoàn cảnh đói khát và ra mắt người mẹ già trong lời ra tiếng vào của làng xóm và sự trêu đùa của lũ trẻ vì thêm người giữa hoàn cảnh người chết đói khắp nơi là điều không thể tưởng tượng nổi trong mắt mọi người. Cảnh đêm “tân hôn” của hai người còn văng vẳng bên tai những “tiếng khóc hờ” của nhà có người chết đói. Những bữa ăn đầu tiên sau “ngày cưới” đơn giản chỉ có cháo cám loãng với rau chuối thái, nhưng họ vẫn nói đến chuyện cách mạng, chuyện ngày mai mà bên ngoài đường vẫn vang lên tiếng trống thúc thuế.

Vợ nhặt có cốt truyện khá đơn giản, nhưng hấp dẫn. Nhà văn tạo ra được tình huống Tràng “nhặt” được vợ để vừa nói đến nạn đói, vừa nói đến tình thương giữa con người với con người, vừa nói đến bản chất tốt đẹp của người nông dân, lại vừa nói đến chuyện cách mạng, chuyện hạnh phúc. Nghĩa là, với tình huống “vợ nhặt”, truyện ngắn đã chứa đựng được nhiều chủ đề khác nhau tương đương với một tiểu thuyết dài.

Chuyện anh cu Tràng “nhặt” được vợ gọi là tình huống truyện, bởi vì Tràng là người xấu xí, thô kệch, nhà nghèo, gia đình đơn côi, một mẹ một con, lại là trong nạn đói, nuôi mình còn chẳng nổi lại đèo bòng. Thế nhưng Tràng có vợ thật, không cần phải cưới hỏi mà vợ theo anh về nhà. Chuyện lạ này vô lí thật! Giải quyết cái vô lí thành hợp lí chính là giải quyết tình huống của Kim Lân. Tràng là người xấu xí nhưng rất tốt bụng, dễ mến. Nếu Tràng không là người dễ mến thì làm sao trẻ con trong xóm cứ chờ Tràng mỗi chiều đi làm về là ùa cả ra, vây lấy hắn, reo cười váng lên? Nếu Tràng không phải là người vui tính thì đâu biết đùa bằng một câu hò theo lối tỏ tình đó để sau này gặp lại người mà hắn tỏ tình? Nếu không phải năm đói thì ai mà theo Tràng về làm gì? Nếu Tràng không phải là người tốt bụng thì làm sao Tràng cho một người không phải bà con thân thích ăn đến bốn bát bánh đúc giữa thời buổi đói khát này? Nếu người đàn bà kia là loại người “ăn xong quẹt mỏ như gà” thật thì đâu có theo Tràng về nhà làm vợ? Nếu Tràng không có một bà mẹ tốt bụng như bà cụ Tứ thì liệu người đàn bà kia có ở được trong nhà không? Tất cả những điều đó được tác giả kể lại một cách hết sức tự nhiên. Lúc đầu là cái chân dung thô kệch, xấu xí của anh cu Tràng. Sau đó, giữa khung cảnh nạn đói người chết như ngả rạ  thì anh cu Tràng lại dắt vợ về trước mắt thiên hạ. Sau đó lại kể về chuyện Tràng nhặt được vợ như thế nào, và cuối cùng là khung cảnh cuộc sống ba mẹ con Tràng. Câu chuyện với nhiều tình tiết cứ tiếp nối nhau trong một giọng kể trầm lắng, có lúc cất lên một chút bằng tiếng cười đùa hay vài lời hài hước rồi lại hạ xuống đều đều như đưa người đọc trở lại những ngày tháng đau thương, nhưng không phải xót xa, đau đớn mà để hi vọng, để hướng tới tương lai.

Vợ nhặt là bức kí họa về chân dung con người. Trong Truyện có cả người sống lẫn người chết. Hình ảnh người đói và chết đói được nhiều nhà nhiếp ảnh thời bấy giờ chụp và lưu giữ lại, trong đó có nhiều bức ảnh nổi tiếng của cụ Võ Anh Ninh. Trong văn chương cũng có nhiều nhà văn, nhà thơ viết về con người trong nạn đói như Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu. Trong Vợ nhặt của Kim Lân, không chỉ có hình ảnh người đói, người chết đói mà con người đang sống, đang khao khát và đang đi tìm hạnh phúc ngay cả trong nạn đói. Xuất hiện đầu tiên trong tác phẩm là chân dung nhân vật Tràng. Đó là một con người ngật ngưỡng cùng với con đường khẳng khiu. Chất liệu “kí họa” bằng từ ngữ của Kim Lân thật độc đáo, đem đối lập giữa vẻ “to lớn” của con người với sự “mảnh mai, yếu ớt” của con đường để gợi ra sự “quá khổ” của con người so với con đường, hay sự quá nhỏ bé của con đường so với con người(?). Trên con người đó, một khuôn mặt xấu xí luôn luôn cử động: khi thì tủm tỉm cười, khi thì gà gà đắm vào bóng chiều, khi thì quai hàm bạnh ra, khi thì nhấp nhỉnh, khi thì lảm nhảm. Nói chung, khuôn mặt ấy chẳng “phẳng lặng” chút nào mà bên trong như đang có sự hối thúc ghê gớm làm cho khuôn mặt đã xấu lại thêm xấu. Chân dung Tràng có cái gì đó khác lạ với những con người bình thường: hai con mắt thì nhỏ tí, quai hàm thì bạnh ra, bộ mặt thì thô kệch, thân hình thì “vập vạp”, cái lưng to rộng như lưng gấu, cái đầu trọc nhẵn, cái áo nâu tàng thì vắt ở bên vai. Tiếp đó nhà văn phác thảo những chân dung làm khung cảnh chung cho nạn đói: những đứa trẻ thì ngồi ủ rũ ở xó đường, những người đói thì dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, tư thế những con người đó thì nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, Tràng xuất hiện nhưng không phải một mình, mà là thêm một mình nữa. Người đàn bà đi bên Tràng như được phác họa để tương xứng với Tràng, nghĩa là cũng không xinh đẹp gì (thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt) và mọi người không biết thị là ai, cũng không phải là bà con thân thích với Tràng. Mọi người ngơ ngác, chính Tràng cũng không biết thị là ai, tên gì, quê quán ở đâu,… huống gì là những người dân ngụ cư. Cũng như Tràng, thị là con người khác lạ. Chân dung đôi nam nữ dắt nhau về nhà trên con đường (có lẽ không còn khẳng khiu nữa) được nhà văn khắc họa hết sức độc đáo. Một người cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, để cái nón rách che đi khuôn mặt của mình trước sự nhòm ngó của mọi người, điệu bộ có vẻ khó chịu, ngượng nghịu, chân nọ bước díu vào chân kia. Còn người kia thì cái mặt cứ vênh vênh lên tự đắc. Hai con người đó chỉ đối đáp với nhau bằng những câu cụt ngủn, không nhằm vào câu chuyện nào. Chân dung thứ ba được tác giả mô tả tỉ mỉ hơn là chân dung người mẹ Tràng, bà cụ Tứ. Đó là hình ảnh người mẹ đứng trước cửa nhìn vào nhà đầy ngạc nhiên khi có một người đàn bà lạ xuất hiện trong nhà mình. Sau đó bà lão cúi đầu nín lặng cùng với bao nỗi niềm vui, buồn, xót xa, thương nhớ diễn ra bên trong bà. Khi hiểu ra mọi nhẽ, bà cụ có vẻ chậm chạp kia bây giờ hoạt bát hẳn lên, nói năng cũng nhiều hơn. Bà xăn xắn thu dọn, quét tước nhà cửa, lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng lên một cái nồi khói bốc lên nghi ngút,… Cuối cùng là hình ảnh những con người nhộn nhịp quét dọn nhà cửa, vui vẻ nói chuyện. Đặc biệt, Kim Lân đã rất khéo léo khắc họa chân dung hạnh phúc. Trong khung cảnh nạn đói tối tăm đó thì ngôi nhà Tràng được thắp lên bởi ngọn đèn dầu mà Tràng “phung phí” mất hai hào. Cái đêm tân hôn mà cả hai cùng sượng sùng cả biết nói gì thì đã có ngọn đèn làm chứng. Qua ngọn đèn, nhà văn đã “chụp” cho đôi trai gái bức ảnh cưới mà ánh đèn vàng đục ở góc nhà tỏa ra ấm áp và kéo dài hai cái bóng trên vách.

Qua những hình ảnh được tác giả dựng lên trong tác phẩm, có thể nhận thấy tác giả khắc họa chân dung người đói, người chết đói có vẻ sơ sài, nhưng khắc họa chân dung người khao khát hạnh phúc, người hạnh phúc, sung sướng thì tập trung hơn. Những bức chân dung đó lúc đầu còn đơn độc, buồn bã nhưng càng về cuối càng nhiều lên, càng vui nhộn hẳn lên. Trong những hình ảnh đó, hình ảnh những con người vui vẻ, hạnh phúc đang lấn át đi những hình ảnh ảm đạm, thê thảm của nạn đói. Có thể nói, trong Vợ nhặt không có bức chân dung nào đẹp cả mà hình như là rất xấu xí, mỗi khuôn mặt có một cái xấu riêng, nhưng bên trong các khuôn mặt xấu xí này đều chứa đựng những tình cảm sâu sắc và cao thượng, bao dung. Khắc họa chân dung nhân vật, nhà văn không nhằm bôi xấu họ mà trái lại để ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ bên trong của họ, nhất là khi đặt vào hoàn cảnh éo le này, như là một sự thử thách của thực tiễn, đồng thời để khẳng định một vấn đề: dù trong hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng người ta vẫn hi vọng, vẫn hướng về tương lai.

Vợ nhặt là bài ca về hạnh phúc. Nhà văn đã không ngần ngại viết về sự khao khát hạnh phúc và chuyện hạnh phúc của con người trong đói kém. Nhân vật chính trong truyện là Tràng và câu chuyện được kể là chuyện Tràng có vợ. Tràng có vợ vào ngay giữa nạn đói. Cái đói bao trùm cả không gian, len lỏi vào trong xóm ngụ cư. Chuyện lấy vợ của Tràng mà cũng làm cho hàng xóm phải bận tâm: Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Vợ Tràng được thiên hạ gọi là “cái của nợ đời”, nhưng đối với Tràng, cả mẹ Tràng nữa thì đó là “của quý”; bởi vì người ta có sao mới theo con mình. Trong nạn đói, con người có thể là cái “của nợ” thật, vì thêm một người là thêm miệng ăn, bớt đi hi vọng sống của người khác. Nhưng cái “của nợ” đó lại là hạnh phúc đối với những người đang khao khát hạnh phúc, là cái lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát và tăm tối, nó làm cho Tràng quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt, bây giờ chỉ còn hạnh phúc. Tràng lấy vợ không phải ở sự sắp xếp của cha mẹ, mà tự mình đi đến với tình yêu, và tình yêu đó đã đưa đẩy đến cho Tràng một người vợ. Tình yêu của Tràng cũng có duyên cớ như bao tình yêu khác, nhưng có chỉ thể hiện theo kiểu “nông dân”. Câu hò tỏ tình của Tràng không phải vu vơ (Muốn ăn cơm tám mấy giò! Lại đây mà đẩy xe bò với anh), nó cũng đầy ẩn ý: muốn hạnh phúc, sung sướng cùng anh thì hãy chung sức cùng anh (chứ đừng chê anh xấu, đừng chê anh nghèo, đừng chê anh làm nghề thấp kém). Sự sáng tạo đó trong lời tỏ tình của Tràng có lẽ đã làm người con gái kia suy nghĩ và đã hiểu ra; nhưng khi gặp lại người ta thì lại trong một hoàn cảnh trớ trêu đầy sự đói rách. Trong hoàn cảnh đó, người ta phải nói với nhau những lời yêu: khi thì trách móc (Điêu! Người thế mà điêu), khi thì hoan hỉ (Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố), khi thì tỏ ra đấng trượng phu (Rích bố cu, hở), khi thì thành thật (làm đếch gì có vợ), khi thì là lời đề nghị lấp lửng (Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về). Cái đói thì khủng khiếp thật, nhưng có lúc nó có thể xe duyên cho một mối tình đấy!

Hạnh phúc đến làm cho con người ta trưởng thành hơn. Tràng đã trở thành một con người khác: ngoan ngoãn nghe lời mẹ, bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Có vợ, Tràng đã quan tâm đến những gì xảy ra xung quanh mình, Tràng bỗng vừa chợt nhận ra, xunh quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ. Hạnh phúc có thể thay đổi cả không gian sống của con người. Đập vào mắt Tràng là cảnh tượng của cuộc sống mà mọi người đều có trách nhiệm làm cho nó tươi đẹp: Ngoài vườn, người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Kim Lân rất khéo léo dựng cảnh về cuộc sống gia đình hạnh phúc. Không khí hạnh phúc đang tràn ngập cả gia đình, làm thay đổi tính cách con người. Người mẹ thì vui vẻ, tươi cười, đon đả. Người đàn bà “chỏn lỏn, sưng sỉa” hôm qua về nhà Tràng lúc đầu chỉ để nương tựa qua nạn đói thì hôm nay hiền hậu đúng mực. Không khí đó, khung cảnh đó, cùng với những câu chuyện về tương lai, về lá cờ đỏ đã át đi những tiếng trống thúc thuế, tiếng khóc hờ, tiếng quạ kêu từng đàn,… của không khí chết chóc nạn đói.

Vợ nhặt là khúc hát tình người đằm thắm. Bà cụ Tứ xuất hiện ở giữa truyện để nâng tư tưởng của tác phẩm lên một nấc thang mới. Bà cụ là hiện thân của lòng nhân ái, hiện thân của người mẹ mẫu mực và hiện thân của tâm hồn con người Việt Nam. Viết về người mẹ Tràng, nhà văn thực sự kính trọng, không còn những lời văn hài hước qua câu kể và dựng đối thoại như ở đoạn trước ma là sự miêu tả từ ngoài vào trong để soi cho được tâm hồn của con người đã từng trải, đã từng chịu đau thương. Trong tác phẩm, không có một lời trách móc của bà mẹ mà chỉ là những lời cảm thông, khi thì ở trong lòng (người ta có sao mới theo con mình), khi thì bộc lộ ra (thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng). Nhưng cảm động nhất là tác giả diễn tả những buồn tủi trong lòng của một người mẹ luôn nghĩ đến trách nhiệm của mình đối với hạnh phúc của con cái: chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, nhưng mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Con mình thì […] Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?. Người đọc cảm phục một người mẹ biết nén những buồn tủi, lo lắng trong lòng để vui vẻ, để mong đem đến hạnh phúc cho con. Trong câu chuyện sau ngày cưới, bà cụ Tứ là người khơi ra nhưng câu chuyện về tương lai, về hạnh phúc, và chính cụ đã nói nhiều về điều này. Nói những điều đó không phải là cụ khao khát hạnh phúc, hi vọng ở tương lai cho mình, bởi cụ già rồi, mà người mẹ ấy đang sống vì con, vì cháu, và tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình trong sự lo lắng, vun vén cho hạnh phúc của con cái. Nhân vật bà cụ Tứ là hiện thân của tình người cao cả.

Vợ nhặt là một thành công của Kim Lân. Nhà văn tỏ ra rất tài tình trong việc khắc họa chân dung nhân vật, trong việc miêu tả tâm lí và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả tình huống và tâm trạng khó diễn tả nhất. Trong một truyện ngắn chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng như Vợ nhặt thì tài năng trước hết là nhà văn đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo: tình huống “vợ nhặt” có một không hai trong lịch sử văn học dân tộc.

(HDDVLV12)

 

 

 

Advertisements

Bình luận nha :)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s