27/05/2013

Hiện đang ôn thi TN nên không post bài cho lớp 9 được. Chờ một tuần nhé 🙂

Advertisements

Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn có cốt truyện khá đơn giản. Truyện kể về mấy chị em Việt có bố bị Tây bắt, chặt đầu. Mẹ mới bị đại bác Mĩ giết chết hồi năm ngoái. Hai chị em Chiến, Việt tranh nhau đi tòng quân. Chỉ trong một trận đánh, Việt diệt được một xe đầy Mĩ và sáu Mĩ lẻ. Bị thương nặng, lại lạc mất đơn vị, Việt nằm lại trên chiến trường bà ngày đêm, súng vẫn lên đạn, ngón tay cái, ngón tay duy nhất còn nhúc nhích được, vẫn luôn đặt trên cò súng. Tỉnh rồi lại mê, mê rồi lại tỉnh, anh nhớ lại những kỉ niệm vui vuồn tuổi thơ, nhớ lại ba má, anh chị em, nhớ chú Năm. Việt và Chiến ra đi đánh giặc để báo thù cho ba má, để giải phóng quê hương, tiếp tục trang sử anh hùng của gia đình. Anh Tánh dẫn tiểu đội đi tìm Việt suốt ba ngày, mấy lần đụng địch, lục suốt mặt trận dài dằng dặc mới gặp được Việt và đưa về bệnh viện quân y. Lúc vết thương sắp lành, anh Tánh giục Việt viết thư cho chị Chiến.

Truyện được kể chủ yếu qua hồi ức của nhân vật, trong hoàn xảnh nhân vật bị thương nặng, nằm lại trên chiến trường, nghĩa là đang đối mặt với cái chết. Kết cấu và tổ chức các sự kiện trong tác phẩm diễn biến theo trí nhớ và ý nghĩ của nhân vật khi đứt, khi nối sau mỗi lần ngất đi, tỉnh lại. Truyện được kể theo quan điểm nhân vật. Nhân vật chính, đồng thời là người kể chuyện là một chiến sĩ giải phóng quân, nhưng còn quá trẻ, mới mười bảy tuổi. Nói cách khác, Việt vẫn còn rất “trẻ con”, nên những câu chuyện thông qua hồi ức của Việt cũng mang tâm lí “trẻ con”, nhưng cũng có lúc rất nghiêm túc và quan trọng nữa. Những hồi ức, liên tưởng này của Việt vốn gắn bó với quê hương, gia đình mình bằng những kỉ niệm cụ thể về chị Chiến, chú Năm, về mẹ, về cha. Chẳng hạn khi tỉnh lại lần thứ hai, Việt nghe thấy tiếng ếch nhái thì Việt lại nhớ đến chuyện cùng chị Chiến đi bắt ếch, rồi lại nhớ chú Năm phân xử việc tranh công giữa hai chị em ai bắt nhiều, ai bắt ít, rồi chú Năm lấy mấy con trọng trọng về nhậu, khi nhậu hứng khởi lên chú Năm lại hò, rồi nghĩ đến cuốn sổ ghi công trạng gia đình của chú Năm. Tỉnh lại lần khác lúc ban ngày, người Việt khô khốc, thèm tắm và thèm vào bếp lục cơm nguội, lại nhớ đến gói cơm và bình nước nhưng tay đau không với lấy được, lại nghĩ đến đồng đội đang đi tìm mình đâu đó. Những âm thanh của chiến trường bắt Việt phải nghĩ về thực tại: giặc có thể tới; từ đó mà ngẫm nghĩ về cái chết và mối thù quân giặc. Việt nghe tiếng chim cu gáy đâu đây lại nhớ những ngày ở nhà đi bắn chim bằng ná thun, lại nhớ lúc đi bộ đội đem theo cái ná thun; rồi nhớ chuyện đi bộ đội vào cái ngày đó má mới mất, lại nhớ đến má, từ nhớ má mà nghĩ đến ba. Kỉ niệm không thể quên được với Việt là hai chị em giành nhau đi bộ đội và cuộc nói chuyện giữa chị Chiến với Việt trong việc sắp đặt chuyện gia đình để lên đường nhập ngũ.

Câu chuyện gia đình Việt không được sắp xếp để chuyện nào ra chuyện ấy, bắt đầu từ đâu đến đâu mà diễn biến theo tâm lí và hoàn cảnh của nhân vật. Đây là kiểu kết cấu độc đáo của tác phẩm, đòi hỏi người đọc muốn theo dõi câu chuyện phải biết lựa chọn, sắp xếp lại, từ đó mới khám phá được ý nghĩa của tác phẩm. Kết cấu này diễn ra trong tâm trí nhân vật khi hồi tưởng về những kỉ niệm mà chính nhân vật trải qua hay là câu chuyện trong gia đình. Lần theo từng chi tiết, có thể thấy một số nét nổi bật về con người và sự việc được kể trong tác phẩm như sau:

Nhân vật trong tác phẩm có nhiều đặc điểm con người và tính cách giống nhau: họ là những người dân Nam bộ sống dưới thời đại cách mạng, gia đình có truyền thống cách mạng, hy sinh vì cách mạng và họ có lòng căm thù giặc sâu sắc, gan dạ, dũng cảm, và khao khát được chiến đấu giải phóng quê hương. Tính cách của con người Nam Bộ bộc trực, thẳng thắn, trung thực, giàu tình nghĩa ở trong mỗi nhân vật được phát huy trong tình đồng chí, đồng đội, thủy chung với gia đình, với cách mạng và Tổ quốc.

Chuyện của một gia đình được kể lại trong bối cảnh của khói lửa chiến tranh ác liệt qua khung cảnh chiến trường mà Việt, một đứa con của gia đình đó, chiến đấu và bị thương, lạc đơn vị, xung quanh vẫn là tiếng máy bay, tiếng xa tăng, tiếng súng vẫn rền vang. Trong hoàn cảnh ấy, tình cảm gia đình và sự gắn bó với quê hương hiện về cùng với những kỉ niệm tuổi thơ đã làm nên vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Việt, đồng thời qua đó thể hiện tâm hồn của các nhân vật khác như chú Năm, chị Chiến.

Bên cạnh những đặc điểm và tính cách giống nhau đó, mỗi nhân vật trong tác phẩm có những nét riêng biệt, tạo nên những tính cách kiểu người Nam Bộ trong hệ thống nhân vật của Nguyễn Thi.

Chú Năm là một người lao động chất phác, giàu tình yêu thương, hay mơ mộng, gửi tâm hồn mình vào những câu hò. Tuy nhiên con người này là trụ cột trong gia đình, thay mặt ba má Việt để phân giải, quyết định những công việc mà hai chị em Việt không nhất trí với nhau. Đồng thời chú là người giữ gìn truyền thống của một gia đình cách mạng và giáo dục truyền thống đó cho lớp trẻ trong gia đình là Việt và Chiến. Chú Năm còn là nhân vật phát ngôn cho quan điểm về trách nhiệm của con người đối với gia đình và Tổ quốc: chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẻ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó, việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non.

Má Việt mang “tính cách Út Tịch”, bà đã mang tính gan góc khi còn con gái, nên khi trái pháo của giặc bắn ra không nổ, bà nhặt bỏ vào rổ mang về. Bà là người rất mực thương chồng, thương con, đảm đang, tháo vát, căm thù giặc sâu sắc, đầy nhiệt tình cách mạng. Cuộc đời của má Việt chồng chất những gian nan, vất vả cùng với những đau thương nhưng bà vẫn cắn răng, nén chặt nỗi khổ ấy trong lòng để nuôi con, để đánh giặc.

Việt và Chiến là hai nhân vật chính trong tác phẩm, đại diện cho thế hệ trẻ miền Nam trong cuộc kháng chiến của dân tộc. Hai nhân vật này là những đứa con trong một gia đình có truyền thống cách mạng, đều thương yêu nhau, thương ba má và chú Năm, đều khao khát được đi đánh giặc trả thù cho ba má.

Việt được tác giả xây dựng thành hai con người có tính cách khác nhau nhưng bổ sung cho nhau

Con người trẻ con ở Việt là tính cách hồn nhiên, hiếu động, rất thương chị nhưng hay tranh giành với chị (thương thị theo cách trẻ con: khi anh em trong đơn vị hỏi thì Việt giấu chị vì sợ mất chị, khi có việc phải lo toan, xắp đặt thì phó mặc cho chị, trong suy nghĩ của Việt, chị Chiến giống má, vì thế cũng phải lo toan như má,…) đi bộ đội mang theo ná thun, khi có súng rồi mà vẫn giữ cái ná thun trong túi, không sợ Mĩ mà lại sợ ma, nằm lại trên chiến trường nhưng trước khi nghĩ đến gia đình là nghĩ đến những kỉ niệm của tuổi thơ như bắt ếch, bắn chim. Việt vốn là con người gan dạ và dũng cảm. Ngay từ khi còn bé tí, Việt dám xông vào đá thằng giặc đã giết ba mình. Việt xung phong đi đánh giặc cũng hào hứng như đi bắt ếch, bắn chim

Con người chiến sĩ trong Việt thể hiện ở tình cảm đồng đội, rất yêu thương đồng đội. Trong chiến đấu, Việt ngoan cường, dùng thủ pháo diệt xe bọc thép Mĩ và tiêu diệt thêm sáu Mĩ lẻ. Chiến công đầu của chiến sĩ giải phóng còn quá trẻ như Việt quả là chiến công anh hùng. Bị thương nặng, mặt mũi chân tay đẫm máu, mắt bị thương không nhìn thấy gì, lại đói khát, chỉ còn một viên đan đã lên nòng và ngón tay cái còn cử động được nhưng Việt vẫn luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu: Trên trời có mày, dưới đất có mày, khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày.

Là đứa con trong gia đình, Việt rất thương ba má, nung nấu mối thù nhà, quyết đánh giặc để trả thù cho ba má, để giải phóng quê hương, được chú Năm yêu thương và gửi gắm tâm hồn. Câu hò của chú Năm gửi gắm bao tình cảm tốt đẹp với Việt: khi thì Việt biến thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Địn, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười.

Nhân vật chị Chiến là kiểu nhân vật nữ của Nguyễn Thi. Chị Chiến chỉ lớn hơn Việt khoảng hơn một tuổi nhưng mang nhiều tính cách của người lớn và cũng gắn bó với lớp người đi trước nhiều hơn. Trong nói năng, Việt luôn thấy chị Chiến giống má và còn học được cách nói “trọng trọng” của chú Năm. Khi má mất thì chị Chiến gánh vác ngay công việc của má, luôn lo toan, sắp xếp công việc gia đình, quyết đoán trong mọi việc, hành động dứt khoát, có trách nhiệm đối với gia đình, lo lắng chăm sóc em, đưa bàn thờ ba má đi gửi trước khi lên đường tòng quân. Hoàn cảnh đã làm cho chị Chiến, một cô bé trở thành một người lớn, có nhiều điểm giống má, nhưng dẫu sao, Chiến cũng vẫn là cô gái mới lớn, vẫn mang dáng vẻ trẻ trung, khi nào cũng có cái gương trong túi. Tính cách không nhất quán, luôn nhường nhịn em nhưng lại tranh công bắt ếch với em, tranh giành với em khi đi đăng kí tòng quân. Ngoài những nét sinh động về tính cách đó, nhân vật chị Chiến vẫn mang khí phách kiểu “tính cách Út Tịch”, Chiến cũng quyết tâm đi bộ đội để trả thù nhà, vẫn mang quyết tâm như dao chém đá: Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!

Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật truyện và kí của Nguyễn Thi. Rất nhiều tác phẩm của ông đã phản ánh tinh thần, ý chí và sức mạnh của các thế hệ nhân dân miền Nam đánh giặc cứu nước, cứu nhà. Nhưng ở tác phẩm này, nhà văn không trình bày về những chiến thắng xuôi chiều mà chỉ khai thác ở phía nghĩa tình gia đình trong mối quan hệ nghĩa tình cách mạng.

Về xây dựng nhân vật, ngoài việc thể hiện tính cách con người Nam bộ trong thời đại cách mạng thì Nguyễn Thi rất am hiểu và sâu sát với nhân vật của mình. Nhà văn đã đưa người đọc đi vào thế giới mênh mông sâu thẳm của tâm hồn nhân vật để phát hiện các mối quan hệ gia đình, xã hội, quan hệ địch, ta với những tình cảm sâu nặng và phong phú của con người. Qua theo dõi diễn biến nội tâm nhân vật Việt, người đọc đi đến cuộc sống bên trong của các nhân vật khác như chú Năm, chị Chiến, má Việt.

Việc tạo dựng bối cảnh rộng lớncả về không gian và thời gian trong một thời điểm lịch sử (thời điểm Nguyễn Thi viết tác phẩm là thời điểm Mĩ đưa quân ào ạt vào miền Nam), đã làm cho câu chuyện gia đình trở thành câu chuyện của dân tộc và thời đại.

Đặc sắc nhất của tác phẩm là nghệ thuật dựng hồi ức, một lối tự sự có nhiều nét riêng. Câu chuyện được thuật lại không hoàn toàn theo trật tự thời gian mà chủ yếu là theo dòng hồi tưởng miên man, đứt nối của nhân vật. Lối thuật truyện này giúp tác giả nối các câu chuyện ở các quãng thời gian khác nhau một cách liền mạch, sự qua lại giữa quá khứ và hiện tại diễn ra một cách tự nhiên cùng với những chi tiết thoáng đến thoáng đi mà ở đó đã gợi nên biết bao tư tưởng, tình cảm lớn lao và trọng đại. Lối thuật chuyện theo dòng kí ức này đã làm cho kết cấu của truyện ngắn trơ nên linh hoạt, sống động và có nhiều ngả rẽ, nhiều khúc quanh làm cho người đọc không thể đoán biết trước được sự việc mà buộc phải theo dõi từ đầu đến cuối, chờ đợi sau mỗi lần tỉnh lại của nhân vật.

Cuối cùng, đặc sắc về truyện ngắn Nguyễn Thi phải nói đến việc sử dụng ngôn ngữ, vừa đậm màu sắc Nam bộ, vừa cô đọng, súc tích vừa giàu cảm xúc. Chẳng hạn những câu nói của người đại diện cho truyền thống gia đình, phần lớn là những câu mang ý nghĩa sâu sắc. Câu nói “… chuyện gia đình nó cũng dài như dòng sông, để rồi chú chia cho mỗi người một khúc để ghi vào đó” là câu nói mang tính khái quát về truyền thống gia đình giống như dòng sông, có ngọn nguồn, chảy theo một hướng mà mỗi đứa con là một khúc sông gia đình ấy, nhưng là khúc sau, càng về sau càng nhiều nước, nhiều thành tích và nhiều sự quyết tâm hơn. Các nhân vật của Nguyễn Thi được xây dựng trong tác phẩm là để luôn hướng về truyền thống ấy.

Trong tác phẩm, có lẽ đoạn văn cảm động nhất là đoạn nói về chị em Việt khiêng bàn thờ ba má sang gửi nhà chú Năm. Xây dựng đoạn văn này, Nguyễn Thi muốn tạo dựng một không khí thiêng liêng trước ngày hai chị em lên đường thực hiện tình cảm sâu nặng đối với ba má, đối với truyền thống gia đình, đồng thời làm nghĩa vụ cao cả của người thanh niên đối với Tổ quốc. Mối thù đối với bọn giặc bây giờ đã có hình, có khối, đang đè nặng lên đôi vai hai chị em. Trong khung cảnh này, nhân vật đã bộc lộ được ý chí và quyết tâm lên đường đánh giặc của mình đồng thời như là hình thức đối thoại tâm linh với những người đã khuất để thể hiện sự trưởng thành của nhân vật về nhận thức và có thêm sức mạnh, ý chí và lòng dũng cảm trước lúc ra trận.

(HDDVLV12)

Vợ nhặt (Kim Lân)

Vợ nhặt được thai ngén ngay sau nạn đói năm 1945 nhưng ra đời sau đó mười năm. Nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu đó đã ám ảnh nhà văn, thôi thúc nhà văn viết về nó. Tuy nhiên, “Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người” (Kim Lân).

Truyện kể về nhân vật Tràng, nhà nghèo, dân ngụ cư, không lấy được vợ. Một lần theo xe chở thóc lên tỉnh, một người phụ nữ đã theo anh về nhà và họ trở thành vợ chồng. Tràng đã “nhặt” được vợ trong hoàn cảnh đói khát và ra mắt người mẹ già trong lời ra tiếng vào của làng xóm và sự trêu đùa của lũ trẻ vì thêm người giữa hoàn cảnh người chết đói khắp nơi là điều không thể tưởng tượng nổi trong mắt mọi người. Cảnh đêm “tân hôn” của hai người còn văng vẳng bên tai những “tiếng khóc hờ” của nhà có người chết đói. Những bữa ăn đầu tiên sau “ngày cưới” đơn giản chỉ có cháo cám loãng với rau chuối thái, nhưng họ vẫn nói đến chuyện cách mạng, chuyện ngày mai mà bên ngoài đường vẫn vang lên tiếng trống thúc thuế.

Vợ nhặt có cốt truyện khá đơn giản, nhưng hấp dẫn. Nhà văn tạo ra được tình huống Tràng “nhặt” được vợ để vừa nói đến nạn đói, vừa nói đến tình thương giữa con người với con người, vừa nói đến bản chất tốt đẹp của người nông dân, lại vừa nói đến chuyện cách mạng, chuyện hạnh phúc. Nghĩa là, với tình huống “vợ nhặt”, truyện ngắn đã chứa đựng được nhiều chủ đề khác nhau tương đương với một tiểu thuyết dài.

Chuyện anh cu Tràng “nhặt” được vợ gọi là tình huống truyện, bởi vì Tràng là người xấu xí, thô kệch, nhà nghèo, gia đình đơn côi, một mẹ một con, lại là trong nạn đói, nuôi mình còn chẳng nổi lại đèo bòng. Thế nhưng Tràng có vợ thật, không cần phải cưới hỏi mà vợ theo anh về nhà. Chuyện lạ này vô lí thật! Giải quyết cái vô lí thành hợp lí chính là giải quyết tình huống của Kim Lân. Tràng là người xấu xí nhưng rất tốt bụng, dễ mến. Nếu Tràng không là người dễ mến thì làm sao trẻ con trong xóm cứ chờ Tràng mỗi chiều đi làm về là ùa cả ra, vây lấy hắn, reo cười váng lên? Nếu Tràng không phải là người vui tính thì đâu biết đùa bằng một câu hò theo lối tỏ tình đó để sau này gặp lại người mà hắn tỏ tình? Nếu không phải năm đói thì ai mà theo Tràng về làm gì? Nếu Tràng không phải là người tốt bụng thì làm sao Tràng cho một người không phải bà con thân thích ăn đến bốn bát bánh đúc giữa thời buổi đói khát này? Nếu người đàn bà kia là loại người “ăn xong quẹt mỏ như gà” thật thì đâu có theo Tràng về nhà làm vợ? Nếu Tràng không có một bà mẹ tốt bụng như bà cụ Tứ thì liệu người đàn bà kia có ở được trong nhà không? Tất cả những điều đó được tác giả kể lại một cách hết sức tự nhiên. Lúc đầu là cái chân dung thô kệch, xấu xí của anh cu Tràng. Sau đó, giữa khung cảnh nạn đói người chết như ngả rạ  thì anh cu Tràng lại dắt vợ về trước mắt thiên hạ. Sau đó lại kể về chuyện Tràng nhặt được vợ như thế nào, và cuối cùng là khung cảnh cuộc sống ba mẹ con Tràng. Câu chuyện với nhiều tình tiết cứ tiếp nối nhau trong một giọng kể trầm lắng, có lúc cất lên một chút bằng tiếng cười đùa hay vài lời hài hước rồi lại hạ xuống đều đều như đưa người đọc trở lại những ngày tháng đau thương, nhưng không phải xót xa, đau đớn mà để hi vọng, để hướng tới tương lai.

Vợ nhặt là bức kí họa về chân dung con người. Trong Truyện có cả người sống lẫn người chết. Hình ảnh người đói và chết đói được nhiều nhà nhiếp ảnh thời bấy giờ chụp và lưu giữ lại, trong đó có nhiều bức ảnh nổi tiếng của cụ Võ Anh Ninh. Trong văn chương cũng có nhiều nhà văn, nhà thơ viết về con người trong nạn đói như Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu. Trong Vợ nhặt của Kim Lân, không chỉ có hình ảnh người đói, người chết đói mà con người đang sống, đang khao khát và đang đi tìm hạnh phúc ngay cả trong nạn đói. Xuất hiện đầu tiên trong tác phẩm là chân dung nhân vật Tràng. Đó là một con người ngật ngưỡng cùng với con đường khẳng khiu. Chất liệu “kí họa” bằng từ ngữ của Kim Lân thật độc đáo, đem đối lập giữa vẻ “to lớn” của con người với sự “mảnh mai, yếu ớt” của con đường để gợi ra sự “quá khổ” của con người so với con đường, hay sự quá nhỏ bé của con đường so với con người(?). Trên con người đó, một khuôn mặt xấu xí luôn luôn cử động: khi thì tủm tỉm cười, khi thì gà gà đắm vào bóng chiều, khi thì quai hàm bạnh ra, khi thì nhấp nhỉnh, khi thì lảm nhảm. Nói chung, khuôn mặt ấy chẳng “phẳng lặng” chút nào mà bên trong như đang có sự hối thúc ghê gớm làm cho khuôn mặt đã xấu lại thêm xấu. Chân dung Tràng có cái gì đó khác lạ với những con người bình thường: hai con mắt thì nhỏ tí, quai hàm thì bạnh ra, bộ mặt thì thô kệch, thân hình thì “vập vạp”, cái lưng to rộng như lưng gấu, cái đầu trọc nhẵn, cái áo nâu tàng thì vắt ở bên vai. Tiếp đó nhà văn phác thảo những chân dung làm khung cảnh chung cho nạn đói: những đứa trẻ thì ngồi ủ rũ ở xó đường, những người đói thì dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma, tư thế những con người đó thì nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Giữa cái khung cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, Tràng xuất hiện nhưng không phải một mình, mà là thêm một mình nữa. Người đàn bà đi bên Tràng như được phác họa để tương xứng với Tràng, nghĩa là cũng không xinh đẹp gì (thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt) và mọi người không biết thị là ai, cũng không phải là bà con thân thích với Tràng. Mọi người ngơ ngác, chính Tràng cũng không biết thị là ai, tên gì, quê quán ở đâu,… huống gì là những người dân ngụ cư. Cũng như Tràng, thị là con người khác lạ. Chân dung đôi nam nữ dắt nhau về nhà trên con đường (có lẽ không còn khẳng khiu nữa) được nhà văn khắc họa hết sức độc đáo. Một người cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, để cái nón rách che đi khuôn mặt của mình trước sự nhòm ngó của mọi người, điệu bộ có vẻ khó chịu, ngượng nghịu, chân nọ bước díu vào chân kia. Còn người kia thì cái mặt cứ vênh vênh lên tự đắc. Hai con người đó chỉ đối đáp với nhau bằng những câu cụt ngủn, không nhằm vào câu chuyện nào. Chân dung thứ ba được tác giả mô tả tỉ mỉ hơn là chân dung người mẹ Tràng, bà cụ Tứ. Đó là hình ảnh người mẹ đứng trước cửa nhìn vào nhà đầy ngạc nhiên khi có một người đàn bà lạ xuất hiện trong nhà mình. Sau đó bà lão cúi đầu nín lặng cùng với bao nỗi niềm vui, buồn, xót xa, thương nhớ diễn ra bên trong bà. Khi hiểu ra mọi nhẽ, bà cụ có vẻ chậm chạp kia bây giờ hoạt bát hẳn lên, nói năng cũng nhiều hơn. Bà xăn xắn thu dọn, quét tước nhà cửa, lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng lên một cái nồi khói bốc lên nghi ngút,… Cuối cùng là hình ảnh những con người nhộn nhịp quét dọn nhà cửa, vui vẻ nói chuyện. Đặc biệt, Kim Lân đã rất khéo léo khắc họa chân dung hạnh phúc. Trong khung cảnh nạn đói tối tăm đó thì ngôi nhà Tràng được thắp lên bởi ngọn đèn dầu mà Tràng “phung phí” mất hai hào. Cái đêm tân hôn mà cả hai cùng sượng sùng cả biết nói gì thì đã có ngọn đèn làm chứng. Qua ngọn đèn, nhà văn đã “chụp” cho đôi trai gái bức ảnh cưới mà ánh đèn vàng đục ở góc nhà tỏa ra ấm áp và kéo dài hai cái bóng trên vách.

Qua những hình ảnh được tác giả dựng lên trong tác phẩm, có thể nhận thấy tác giả khắc họa chân dung người đói, người chết đói có vẻ sơ sài, nhưng khắc họa chân dung người khao khát hạnh phúc, người hạnh phúc, sung sướng thì tập trung hơn. Những bức chân dung đó lúc đầu còn đơn độc, buồn bã nhưng càng về cuối càng nhiều lên, càng vui nhộn hẳn lên. Trong những hình ảnh đó, hình ảnh những con người vui vẻ, hạnh phúc đang lấn át đi những hình ảnh ảm đạm, thê thảm của nạn đói. Có thể nói, trong Vợ nhặt không có bức chân dung nào đẹp cả mà hình như là rất xấu xí, mỗi khuôn mặt có một cái xấu riêng, nhưng bên trong các khuôn mặt xấu xí này đều chứa đựng những tình cảm sâu sắc và cao thượng, bao dung. Khắc họa chân dung nhân vật, nhà văn không nhằm bôi xấu họ mà trái lại để ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ bên trong của họ, nhất là khi đặt vào hoàn cảnh éo le này, như là một sự thử thách của thực tiễn, đồng thời để khẳng định một vấn đề: dù trong hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng người ta vẫn hi vọng, vẫn hướng về tương lai.

Vợ nhặt là bài ca về hạnh phúc. Nhà văn đã không ngần ngại viết về sự khao khát hạnh phúc và chuyện hạnh phúc của con người trong đói kém. Nhân vật chính trong truyện là Tràng và câu chuyện được kể là chuyện Tràng có vợ. Tràng có vợ vào ngay giữa nạn đói. Cái đói bao trùm cả không gian, len lỏi vào trong xóm ngụ cư. Chuyện lấy vợ của Tràng mà cũng làm cho hàng xóm phải bận tâm: Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Vợ Tràng được thiên hạ gọi là “cái của nợ đời”, nhưng đối với Tràng, cả mẹ Tràng nữa thì đó là “của quý”; bởi vì người ta có sao mới theo con mình. Trong nạn đói, con người có thể là cái “của nợ” thật, vì thêm một người là thêm miệng ăn, bớt đi hi vọng sống của người khác. Nhưng cái “của nợ” đó lại là hạnh phúc đối với những người đang khao khát hạnh phúc, là cái lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát và tăm tối, nó làm cho Tràng quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả đói khát đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt, bây giờ chỉ còn hạnh phúc. Tràng lấy vợ không phải ở sự sắp xếp của cha mẹ, mà tự mình đi đến với tình yêu, và tình yêu đó đã đưa đẩy đến cho Tràng một người vợ. Tình yêu của Tràng cũng có duyên cớ như bao tình yêu khác, nhưng có chỉ thể hiện theo kiểu “nông dân”. Câu hò tỏ tình của Tràng không phải vu vơ (Muốn ăn cơm tám mấy giò! Lại đây mà đẩy xe bò với anh), nó cũng đầy ẩn ý: muốn hạnh phúc, sung sướng cùng anh thì hãy chung sức cùng anh (chứ đừng chê anh xấu, đừng chê anh nghèo, đừng chê anh làm nghề thấp kém). Sự sáng tạo đó trong lời tỏ tình của Tràng có lẽ đã làm người con gái kia suy nghĩ và đã hiểu ra; nhưng khi gặp lại người ta thì lại trong một hoàn cảnh trớ trêu đầy sự đói rách. Trong hoàn cảnh đó, người ta phải nói với nhau những lời yêu: khi thì trách móc (Điêu! Người thế mà điêu), khi thì hoan hỉ (Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố), khi thì tỏ ra đấng trượng phu (Rích bố cu, hở), khi thì thành thật (làm đếch gì có vợ), khi thì là lời đề nghị lấp lửng (Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về). Cái đói thì khủng khiếp thật, nhưng có lúc nó có thể xe duyên cho một mối tình đấy!

Hạnh phúc đến làm cho con người ta trưởng thành hơn. Tràng đã trở thành một con người khác: ngoan ngoãn nghe lời mẹ, bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Có vợ, Tràng đã quan tâm đến những gì xảy ra xung quanh mình, Tràng bỗng vừa chợt nhận ra, xunh quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ. Hạnh phúc có thể thay đổi cả không gian sống của con người. Đập vào mắt Tràng là cảnh tượng của cuộc sống mà mọi người đều có trách nhiệm làm cho nó tươi đẹp: Ngoài vườn, người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Kim Lân rất khéo léo dựng cảnh về cuộc sống gia đình hạnh phúc. Không khí hạnh phúc đang tràn ngập cả gia đình, làm thay đổi tính cách con người. Người mẹ thì vui vẻ, tươi cười, đon đả. Người đàn bà “chỏn lỏn, sưng sỉa” hôm qua về nhà Tràng lúc đầu chỉ để nương tựa qua nạn đói thì hôm nay hiền hậu đúng mực. Không khí đó, khung cảnh đó, cùng với những câu chuyện về tương lai, về lá cờ đỏ đã át đi những tiếng trống thúc thuế, tiếng khóc hờ, tiếng quạ kêu từng đàn,… của không khí chết chóc nạn đói.

Vợ nhặt là khúc hát tình người đằm thắm. Bà cụ Tứ xuất hiện ở giữa truyện để nâng tư tưởng của tác phẩm lên một nấc thang mới. Bà cụ là hiện thân của lòng nhân ái, hiện thân của người mẹ mẫu mực và hiện thân của tâm hồn con người Việt Nam. Viết về người mẹ Tràng, nhà văn thực sự kính trọng, không còn những lời văn hài hước qua câu kể và dựng đối thoại như ở đoạn trước ma là sự miêu tả từ ngoài vào trong để soi cho được tâm hồn của con người đã từng trải, đã từng chịu đau thương. Trong tác phẩm, không có một lời trách móc của bà mẹ mà chỉ là những lời cảm thông, khi thì ở trong lòng (người ta có sao mới theo con mình), khi thì bộc lộ ra (thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng). Nhưng cảm động nhất là tác giả diễn tả những buồn tủi trong lòng của một người mẹ luôn nghĩ đến trách nhiệm của mình đối với hạnh phúc của con cái: chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, nhưng mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Con mình thì […] Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?. Người đọc cảm phục một người mẹ biết nén những buồn tủi, lo lắng trong lòng để vui vẻ, để mong đem đến hạnh phúc cho con. Trong câu chuyện sau ngày cưới, bà cụ Tứ là người khơi ra nhưng câu chuyện về tương lai, về hạnh phúc, và chính cụ đã nói nhiều về điều này. Nói những điều đó không phải là cụ khao khát hạnh phúc, hi vọng ở tương lai cho mình, bởi cụ già rồi, mà người mẹ ấy đang sống vì con, vì cháu, và tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình trong sự lo lắng, vun vén cho hạnh phúc của con cái. Nhân vật bà cụ Tứ là hiện thân của tình người cao cả.

Vợ nhặt là một thành công của Kim Lân. Nhà văn tỏ ra rất tài tình trong việc khắc họa chân dung nhân vật, trong việc miêu tả tâm lí và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả tình huống và tâm trạng khó diễn tả nhất. Trong một truyện ngắn chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng như Vợ nhặt thì tài năng trước hết là nhà văn đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo: tình huống “vợ nhặt” có một không hai trong lịch sử văn học dân tộc.

(HDDVLV12)

 

 

 

Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

Vợ chồng A Phủ là truyện kể về cuộc đời của hai nhân vật Mị và A Phủ. Đầu tiên là kể về quá trình trở thành con dâu gạt nợ và cuộc sống của Mị trong nhà thống lí Pá Tra. Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị, không đủ tiền cưới phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mẹ Mị đã chết, bố Mị đã già mà món nợ mỗi năm phải trả lãi một nương ngô vẫn còn. Năm đó, ở Hồng Ngài, Tết đến, A Sử con trai thống lí Pá Tra, lừa bắt cóc được Mị về làm vợ cúng trình ma. Mị trở thành con dâu gạt nợ, khổ hơn con trâu con ngựa, lùi lũi như con rùa trong xó cửa. Mị toan ăn lá ngón tự tử. Thương cha già, Mị chết không đành. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Một cái Tết nữa lại đến. Mị thấy lòng phơi phới. Cô uống rượu ừng ực từng bát, rồi chuẩn bị lấy váy áo đi chơi. A Sử trói đứng Mị bằng một thúng sợi đay. Tiếp theo là câu chuyện của đứa trừ nợ là A Phủ. A Phủ vốn là con người tự do của núi rừng: mồ côi từ nhỏ, bị bán cho người Thái dưới cánh đồng, không chịu ở dưới đồng thấp, trốn lên núi lưu lạc ở Hồng Ngài. A Phủ vì tội đánh con quan nên bị làng phạt vạ một trăm bạc trắng. A Phủ trở thành người ở trừ nợ cho Pá Tra. Năm đó rừng động, A Phủ để hổ bắt mất một con bò. Pá Tra đã trói đứng anh vào một cái cọc bằng một cuộn dây. Mấy ngày đêm trôi qua, A Phủ sắp chết đau, chết đói, chết rét thì được Mị cắt dây trói cứu thoát. Hai người trốn đến Phiềng Sa rồi nên vợ nên chồng. A Phủ gặp cán bộ A Châu, kết nghĩa làm anh em, được giác ngộ trở thành chiến sĩ du kích đánh Pháp.

Truyện Vợ chồng A Phủ có cách trần thuật khá độc đáo. Lúc đầu, một giọng kể êm ái để mở ra khung cảnh Tây Bắc với chân dung nhân vật: Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sơi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi.  Mấy câu kể mở đầu là sự bắt giọng tạo nên cảm hứng để tác giả đi vào mô tả thế giới cuộc sống của con người cùng với những biến đổi nội tâm nhân vật. Khi đọc, cần chú ý âm hưởng của đoạn mở đầu này để đi vào khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Hình ảnh cô gái cúi mặt, mặt buồn rười rượi sẽ mở ra nhiều điều lí thú, thu hút sự chú ý của người đọc. Vào sâu trong tác phẩm, lối trần thuật nửa trực tiếp, nhà văn miêu tả những diễn biến bên trong nhân vật theo kiểu nhân vật tự bộc lộ, nhân vật tự nói ra chứ không phải tác giả. Phần sau, câu chuyện được kể lại chủ yếu thông qua cách cảm, cách nghĩ của nhân vật , tức là lối kể chuyện theo quan điểm nhân vật. Như vậy, nhân vật Mị là hệ quy chiếu của quan điểm tác giả. Vì thế, giọng điệu trong tác phẩm, trừ những đoạn tả cảnh, tả phong tục, còn phần lớn lời văn đều thông qua dòng tâm tư nhân vật. Đọc tác phẩm, cần phải đọc chậm rãi, thể hiện giọng đọc như chính suy nghĩ của Mị.

Nhân vật Mị có hai đặc điểm về tính cách: vui tươi, hồn nhiên, yêu đời và buồn khổ, không quan tâm gì đến cuộc sống xung quanh. Mỗi tính cách này xuất hiện trong một hoàn cảnh nhất định. Khi sống với bố, khi nghe tiếng sáo gọi bạn đầu làng, trong lòng Mị phơi phới, những lúc đó, Mị cảm thấy trẻ trung hẳn lên. Nhưng phần lớn thời gian còn lại, cuộc sống của mị buồn khổ, tối tăm. Vì thế, tác giả giới thiệu chân dung nhân vật ở đầu tác phẩm cũng là để hướng đến thể hiện tính cách của Mị trong hoàn cảnh sống ngục tù ở nhà thống lí Pá Tra. Phần kể về cuộc đời Mị lúc chưa làm con dâu gạt nợ có tính chất điểm qua để lí giải cái nguyên nhân Mị trở thành con dâu nhà thống lí Pá Tra. Phần còn lại của tác phẩm là để kể về cuộc sống của Mị ở trong nhà thống lí. Không gian cuộc sống của nhân vật Mị, ngoài những lúc đi làm trên nương trên rẫy thì chủ yếu là ở trong nhà thống lí. Cuộc sống của Mị giống như ngục tù, cái buồng Mị nằm thì giống như cái xà lim: Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Công việc của Mị lặp đi lặp lại:  Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suối đời như thế. Sống trong ngôi nhà này, Mị cũng bị đối xử chẳng khác gì con vật, chồng Mị muốn trói hay muốn đánh gì thì trói, thì đánh, Mị phải cúi đầu chấp nhận. Như vậy, cuộc sống của Mị, số kiếp của con dâu gạt nợ chính là cuộc sống của kẻ nô lệ, hình thức bóc lột sức lao động của bọn lang ti thổ đạo. Câu chuyện đau buồn của cô con dâu gạt nợ này đã nói lên thân phận đau khổ của người nông dân nghèo, của người phụ nữ nghèo miền núi.

Nhân vật A Phủ xuất hiện lúc Mị đang bị A Sử trói đứng ở trong buồng. Khi người chị dâu vừa mở trói để Mị đi hái thuốc đắp cho chồng thì mới biết được sự việc A Sử bị đánh, người đánh là A Phủ. A Phủ bị trói khiêng về ném xuống nhà thống lí như khiêng con lơn. A Phủ bị đánh đập tàn bạo trong vụ xử kiện lạ lùng. Kết quả vụ xử kiện đó, A Phủ nợ thống lí Pá Tra 100 đồng bạc trắng và phải vay nợ trước sự chứng kiến của con ma nhà thống lí, để rồi trở thành đứa ở trừ nợ như lời thống lí: Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền già thì tai bắt mày làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Lai lịch A Phủ được kể lại sau đó. Một con người khỏe mạnh, tự do như A Phủ rồi cũng không thể sống được tự do mà đã biến thành đứa ở trừ nợ của nhà thống lí Pá Tra. A Phủ phãi làm lụng vất vả: đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình. Khi bị hổ bắt mất bò thì A Phủ phải chịu trói cho đến khi nào A Sử bắt được con hổ về.

Cả Mị và A Phủ đều là nạn nhân của chế độ thống trị ở miền núi. Mị và A Phủ đều là kẻ nô lệ, dù mỗi người đến nhà thống lí bằng con đường khác nhau, có hoàn cảnh sống khác nhau, nhưng khi đến đây họ đều phải làm con trâu con ngựa nhà thống lí, họ đều bị đối xử như những con vật, họ được trình ma nhà thống lí và trở thành ma nhà nó, đợi ngày rũ xương ở đây. Chế độ phong kiến đã lợi dụng chính quyền, tục quyền, thần quyền, phu quyền để biến những con người tài hoa, khỏe mạnh, phóng khoáng trở thành những kẻ nô lệ, mang kiếp sống ngục tù và bị đối xử như những con vật. Qua thân phận của hai nhân vật này, tác phẩm đã tố cáo sự tàn bạo của chế độ phong kiến miền núi đối với cuộc sống, số phận người dân miền núi trước cách mạng.

Nội dung tư tưởng truyện không chỉ có thế, mà thông qua cuộc đời và số phận đau thương của nhân vật, nhà văn thể hiện sự phát hiện sức sống tiềm tàng của người dân miền núi Tây Bắc, yếu tố quan trọng của con đường giải phóng số phận con người và đất nước.

Mị là cô gái có nhan sắc và tâm hồn, yêu đời, chăm chỉ, khao khát hạnh phúc và hiếu thảo. Đó là những phẩm chất vốn có của một con người đáng được hưởng hạnh phúc. Đồng thời những yếu tố phẩm chất, tâm hồn của nhân vật Mị là cơ sở của sự tiềm tàng sức sống, giúp nhân vật vượt qua những ràng buộc của các thế lực như chính quyền, phu quyền, thần quyền trong xã hội phong kiến miền núi. Trước khi bị bán cho nhà thống lí Pá tra, Mị đã nói với bố trước lời đề nghị xóa nợ của thống lí Pá Tra: Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu. Mặc dù Mị chưa bước chân đến cửa nhà giàu nhưng đã biết cuộc sống làm dâu nhà giàu nó tủi nhục biết nhường nào. Lời van xin tội nghiệp của một cô gái đâu có tác dụng gì. Người cha thương con nhưng biết làm sao được. Thống lí Pá Tra vẫn cho người đi bắt Mị về cúng ma nhà nó. Người ta đánh lừa cô gái tội nghiệp mới lớn đó và lợi dụng tục bắt dâu để bắt đi. Thương bố, tủi nhục trong thân phận con dâu gạt nợ, Mị trốn về lạy chào bố để đi về bên kia thế giới. Nhưng Mị chết không được. Mị chết thì ai làm nương ngô giã nợ người ta. Lần phản kháng này đã không thành, Mị trở thành công cụ lao động nhà thống lí. Bó Mị chết rồi nhưng Mị không nghĩ đến việc bỏ trốn hay tự tử. Mị trở thành một con người vô hồn vô cảm, suốt ngày chỉ lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ách áp bức của chế độ phong kiến miền núi có thể làm cho con người bị tê liệt sự sống để biến thành thứ công cụ biết nói của nó. Nhưng Mị suốt ngày cũng không nói năng gì, mà chỉ lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Mị tưởng mình đã trở thành con trâu, con ngựa rồi, không còn ý niệm về thời gian, không hy vọng, không mong đợi.

Có lẽ cuộc đời của Mị sẽ như thế cho đến ngày rũ xương. Tấm lòng thương yêu của nhà văn đối với những người dân lao động Tây Bắc không cho phép nhà văn kết thúc như vậy. Tô Hoài đã dựng nên một không gian bên ngoài như là sự đối lập với không gian nhầy nhụa những tội lỗi của ngôi nhà thống lí.

Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô đã xếp yên đầy các nhà kho. Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa. Ở Hồng Ngài người ta đã thành lệ cứ ăn Tết khi gặt hái xong, không kể ngày tháng nào. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gainh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội. Trong các làng Mèo đỏ, nhưng chiếc váy hoa đã đem phơi trên mỏm đó như những con bướm sặc sỡ…

Không gian vui nhộn và tươi đẹp, cùng với những tiếng hát gọi bạn, tiếng sáo đã len lỏi vào ngôi nhà thống lí, đến với cô gái tội nghiệp đang ngồi ở nhà. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Những â thanh đó chưa thể dựng Mị dậy để đi ra ngoài, tham gia vào cuộc chơi. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uốn ực từng bát. Lúc đó, cô Mị ngày nào đã trở về trong tâm hồn tưởng chừng như khô cứng này. Những kí ức đẹp đẽ hiện về làm cho Mị sống ngây ngất trong trạng thái say rượu. Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Khát vọng hạnh phúc tưởng chừng đã tan biến trong tâm hồn đã chai cứng vì đau khổ, bây giờ lại được cháy lên, thật nồng nàn và xót xa, trong đêm tình mùa xuân đầy ắp tiếng sáo, tiếng hát, là những âm thanh của tuổi trẻ và tình yêu. Giữa lúc A Sử đi đâu về đang sửa soạn thhay áo để đi chơi, thì Mị cũng chuẩn bị đi chơi. Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, sắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách. Câu văn ngắn, miêu tả từng hành động của nhân vật tưởng chừng rất tự nhiên và đơn giản đó lại là một sự vận động ghê gớm trong tâm hồn Mị để đi đến quyết định: bất chấp tất cả, phải đi chơi. Nhưng A Sử, người chồng không có lòng với nhau vẫn ở với nhau này đã trói Mị. Miêu tả hành động trói vợ của A Sử cũng bằng số câu miêu tả hành động chuẩn bị đi chơi của Mị. A Sử cũng không hỏi thêm nữa. A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa.

Nếu khi bị trói, Mị đau khổ khóc lóc thì không còn chuyện gì để nói nữa. Ở đây, để khẳng định sức sống tiềm tàng của nhân vật, Tô Hoài tiếp tục để cho nhân vật sống trong không khí tình xuân ấy. Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. Nhà văn đã nhập vào trong những tiềm thức chập chờn để miêu tả những khát vọng sống, hạnh phúc tiềm ẩn trong đáy sâu tâm hồn của con người tưởng chừng như không còn khái niệm sống. Nhà văn vừa để cho nhân vật sống lại những hồi ức đẹp đẽ vừa để nhân vật cảm thức về thân phận của mình. Sau một đêm bị trói nhưng được sống bằng cuộc sống của con người được hồi phục bởi vết thương tâm hồn thì bây giờ Mị đã tỉnh dậy vào một buổi sáng âm sâm trong cái nhà gỗ rộng, cái nhà mà ở đó nhười ta quen trói, quen đánh, quen chửi và đã từng có người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Nhớ đến chuyện này, Mị sợ quá, có nghĩa là Mị cũng sợ chết, Mị cũng muốn sống, trong Mị vẫn còn khát vọng sống.

Cứ mỗi lần sức sống trong con người Mị trỗi dậy, Mị lại bị đẩy xuống sâu hơn nữa trong đau thương. Lần đầu Mị muốn chết nhưng rồi không chết được và bị đày đọa cho đến mất hết ý niệm sống. Khi được tiếng sáo của đêm tình mùa xuân đánh thức, Mị muốn đi chơi thì bị A Sử trói một cách thê thảm. Mị dường như sống một cuộc sống bản năng: đêm đêm Mị ngồi sưởi lửa, mặc dù có lần A Sử đi chơi về thấy Mị ngồi đấy, đánh Mị ngã ngay xuống bếp nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước. Ngồi bên bếp lửa ấm nhưng lòng Mị vẫn băng giá. Mị thấy A Phủ bị trói nhiều đêm liền giữa cái lạnh của miền núi Tây Bắc nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay. Chỉ khi thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại trên khuôn mặt của người Mị tưởng đã chết rồi thì Mị mới bừng tỉnh: Trời ơi! Nó bắt trói đứng người ta đến chết. Dòng nước mắt của A Phủ, con người khỏe mạnh của núi rừng đang tuyệt vọng, đã đánh thức những cảm thức về nỗi đau và cái chết trong con người Mị. Một cuộc đấu tranh bên trong Mị giữa sống và chết trong một thời gian không biết bao lâu, nhưng lúc ấy Đám than đã vạc hẳn lửa,… Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, và Mị đã đi đến hành động cắt dây trói cho A Phủ. Khi dây trói đã cắt đứt tác giả đã để Mị đứng lặng trong bóng tối, rồi sau đó mới để cho Mị vụt chạy ra, băng đi, chạy theo A Phủ. Mị đứng lại để bứt sợi dây đang trói mình, thứ dây trói vô hình bền chắc ghê gớm, n1o trói người dân Tây Bắc nghìn đời nay, nó trói người ta cho đến chết, đó là dây trói thần quyền mà Mị thừa biết ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi. Chính sức sống tiềm tàng trong con người Mị, khi có những tác nhân bên ngoài, nhất là khi bắt được tín hiệu giai cấp (giọt nước mắt của A Phủ) thì nó sẽ trỗi dậy, phá tung dây trói đó để giải phóng số phận mình. Đó là ý tưởng mà nhà văn muốn chia sẻ với người đọc.

A Phủ, một người mà nhiều cô gái mơ ước “Được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu” thì bị trói như trói lợn, khiêng về nhà thống lí để xử kiện vì tội đánh con quan. Miêu tả cảnh xử kiện kì lạ này, nhà văn đã am hiểu một tập quán lạ của một xứ sở có nhiều cây thuốc phiện là khấn trình ma. Đến khi không phải quỳ, không phải bị đánh nữa, A Phủ được đứng lên, nhưng không phải bị đánh và nộp phạt là xong mà là để tự tay cầm dao, chân đau bước tập tễnh đi làm thịt lợn hầu chính những kẻ đã đánh mình, hầu những kẻ đã làm cho mình trở thành nô lệ trong nhà thống lí. Nhân vật này cũng được Tô Hoài xây dựng để thể hiện tiềm tàng sức sống. Khi còn nhỏ, A Phủ đã bỏ trốn lên vùng cao. Trước sự ngạo ngược của kẻ ý thế con quan làm tàng, A Phủ hành động quyết liệt: ném con quay rất to vào mặt A Sử, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp (A Phủ đánh bằng cả scứ mạnh của lòng căm ghét của mình và của chính tác giả nữa). Trong cuộc xử kiện, bị đánh, bị chửi nhưng A Phủ vẫn gan góc không hề kêu rên, im như cái tượng đá. Khi hổ ăn mất bò, A Phủ đòi đi bắt cho được con hổ (chúa sơn lâm của núi rừng). Khi bị trói, trong đêm, A Phủ đã day đứt hai vòng dây trói. Khi được cắt dây trói, A Phủ ngã quỵ xuống, nhưng rồi vùng dậy chạy đi. Tiềm tàng sức sống ở A Phủ là tiềm tàng sức sống thể chất, và sức sống này khi được kết hợp với tiềm tàng sức sống tâm hồn (ở nhân vật Mị) thì nó mới có khả năng vượt thoát số phận.

Trong tác phẩm có nhiều chi tiết ýnghĩa, nhưng chi tiết mang ý nghĩa chủ đề nhất là chi tiết sơi dây trói. Tác giả nhắc lại nhiều lần sợi dây trói. Sợi dây trói từ bàn tay của kẻ thống trị trói những người dân vô tội một cách không thương xót, trói cho đến chêt. Nhưng điều đáng lưu ý ở đây là không phải sợi dây trói bình thường, mà là những sợi dây trói chính ở nạn nhân của nó tạo nên. A Sử dùng thắt lưng (sợi dây phu quyền) chỉ trói được hai tay Mị, nhưng thúng dây đay mà ngày ngày Mị phải tước, phải xe sợi và cả mái tóc dài nữa mới trói Mị không thể cử động được. A Phủ bị trói khi tự tay mình chôn cọc và được trói bằng những sợi dây mây rắn chắc do A Phủ lấy ở trong rừng về. A Phủ đã day đứt hai vòng dây trói nhưng không thoát được cái thòng lọng mà thống lí Pá Tra quàng thêm vào cổ. Như vậy, trong những dây trói để trói buộc người dân miền núi Tây Bắc, có cả sợi dây của chính họ, sợi dây của sự lạc hậu, mê tín dị đoan, của những hủ tục mà tự họ đặt ra và cố giữ lấy. Người dân Tây Bắc muốn tự giải phóng mình và đến với cách mạng htì trước hết phải tự mình cắt những dây trói đó, giúp nhau cắt bỏ dây trói đó.

Vợ chồng A Phủ là một truyện ngắn đặc sắc, thể hiện tài năng và sự hiểu biết về con người và cuộc sống người dân Tây Bắc của Tô Hoài

Việc xây dựng nhân vật, Tô Hoài đã thể hiện được những tính cách khác nhau của hai nhân vật có số phận và hoàn cảnh giống nhau. Để làm được điều này, mỗi nhân vật phải có cách xây dựng riêng. Nhân vật Mị thì chủ yếu miêu tả về tâm lí, còn hình dạng bên ngoài chỉ phác họa những nét lặp đi lặp lại: không nói, cúi mặt, mặt buồn rười rượi, và hành động cũng được lặp lại (các công việc quanh năm suốt tháng trong nhà thống lí). Nhân vật A Phủ thì ngược lại, chủ yếu là được miêu tả ngoại hình, cùng với những hành động dứt khoát, mạnh mẽ.

Ngòi bút tả cảnh thiên nhiên, tả phong tục sinh hoạt của tác giả cũng hết sức đặc sắc. Bằng những nét chấm phá, cảnh sắc thiên nhiên Tây Bắc hiện lên giàu màu sắc và đường nét (những chiếc váy hoa đem phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ,…). Đặc biệt là tả cảnh phong tục sinh hoạt, từ miêu tả cảnh ngày Tết, cho đến cảnh xử kiện đều hiện lên chân thật và sinh động.

Nghệ thuật kể chuyện cũng rất độc đáo. Cách giới thiệu gây sự chú ý ban đầu để đi vào câu chuyên một cách tự nhiên, nêu sự việc trước rồi kể lai lịch sau, việc dẫn dắt các tình tiết khéo léo làm cho mạch truyện liên tục mà không rối, không đứt quãng.

Ngôn ngữ của Tô Hoài cũng rất chọn lọc và sáng tạo. Lối văn giàu tạo hình, có chỗ thoáng qua, nhưng có chỗ như quay cận cảnh làm cho sự việc diễn ra thật sinh động. Tô Hoài còn am hiểu cả lời ăn tiếng nói của người dân miền núi Tây Bắc, nhất là ở những đoạn đối thoại đã làm cho câu chuyện được kể lại hết sức chân thật.

Cuối cùng phải kể đến giọng điệu trần thuật của tác phẩm (như đã nói từ đầu). Trong tác phẩm, Tô Hoài sử dụng lối kể chuyện với nhịp kể chậm, giọng trầm lắng để thể hiện sự cảm thông, yêu mến nhân vật của mình. Đặc biệt, nhà văn đã nhập vào dòng tâm tư nhân vật, sử dụng câu văn nửa trực tiếp để thâm nhập vào dòng ý nghĩ, tiếng nói bên trong, để vừa bộc lộ nội tâm nhân vật, vừa tạo được sự đồng cảm của mình đối với nhân vật.

(HDLVDV12)